QUY CHẾ ĐẠO TRÀNG QUÁN THẾ ÂM

16/09/2014 | Administrator

Chương I : Nhân Sự

1) Trưởng chúng:
Do các huynh đệ bầu hay được vị thầy chỉ định. Có trách nhiệm liên lạc với các phó trưởng chúng, huynh đệ trong đạo tràng một cách thường xuyên. Có nhiệm vụ duy trì sự hoạt động của hội chúng đúng định hướng, phát triển hội viên, mời các sư đến giảng pháp, trợ giúp hội chúng phát triển, ban hành các văn bản về hoạt động của hội đã được sư trụ trì duyệt.

a) Có trách nhiệm tổ chức các buổi sinh hoạt chung định kỳ hàng tuần hàng tháng và hàng năm và tất cả các phật sự chung thuộc hoạt động của phật tử tại chùa, phân việc giao việc cho các phó trưởng chúng.

b) Phổ biến các tài liệu, các giáo lý đã được sư trụ trì duyệt qua

 

c) Báo cáo định kỳ các hoạt động đạo tràng tới sư trụ trì và các sự việc cần giải quyết ngay.

 

d) Đạo tràng hàng năm bỏ phiếu tín nhiệm đối với Trưởng chúng và trong trường hợp có các vi phạm nghiêm trọng có thể bị bỏ phiếu bất tín nhiệm và dừng ngay nhiệm vụ khi được sư trụ trì yêu cầu.

2) Phó Trưởng chúng (kiêm trưởng phân hội):
Do các huynh đệ bầu hay được vị trưởng chúng chỉ định. Có trách nhiệm liên lạc với các huynh đệ trong đạo tràng một cách thường xuyên. Có trách nhiệm hướng dẫn các phật tử mới tham gia, tổ chức duy trì các hoạt động của phân hội được giao quản lý

a) Có trách nhiệm tổ chức các buổi sinh hoạt chung định kỳ hàng tuần hàng tháng và hàng năm.

b) Phổ biến các tài liệu, các giáo lý do trưởng chúng yêu cầu đã được Đại Đức Thích Thanh Huân duyệt qua

c) Thực hiện nhiệm vụ thay trưởng chúng:

Vì lý do nào đó trưởng chúng vắng mặt, phó trưởng chúng được chỉ định có trách nhiệm thay mặt trưởng chúng thực hiện các nhiệm vụ được uỷ quyền

 

d) Trường hợp phó trưởng chúng có trên 70% phật tử trong phân hội bất tín nhiệm thì sư trụ trì hoặc trưởng chúng có thể yêu cầu dừng nhiệm vụ để thay người khác

 

Thủ quỹ:
Do vị trụ trì cùng trưởng chúng chỉ định hoặc các huynh đệ bầu chọn. Có trách nhiệm thu tiền, giữ gìn tiền bạc của đạo tràng với sổ sách minh bạch và công khai.

Cuối hàng tháng thông báo công khai chi tiết tổng thu, tổng chi, số dư bằng văn bản tới hội chúng

3) Thành viên:
Tự nguyện xin gia nhập hoặc được các huynh đệ trong đạo tràng giới thiệu.

Làm lễ ra mắt đạo tràng và phát nguyện trước Tam Bảo, được phát thẻ thành viên phật tử chùa pháp vân, nộp phí hội viên để xây dựng đạo tràng.

Tuân thủ mọi quy định mà đạo tràng đã đề ra .


Chương II-Các hoạt động khác

1) Tại chùa:

Đạo tràng tập trung định kỳ theo ngày giờ đã thống nhất từ trước hoặc theo thông báo chung

Các hoạt động sau đây bắt buộc toàn thể các thành viên có mặt:

-         Ngày rằm tháng tư, rằm tháng 6,  rằm tháng 7, ngày giỗ tổ, ngày kỷ niệm chùa và các ngày khác theo thông báo.

-         Các nhiệm vụ được sư trụ trì, trưởng chúng, phó trưởng chúng yêu cầu

2) Tại nhà:

Làm tròn bổn phận với gia đình của mình. Mặt khác phải làm tròn bổn phận của một công dân đối với xã hội.

Giữ giới là bổn phận đặt lên hàng đầu của người phật tử, ở nhà cũng nghiêm túc thực hiện như khi đến chùa.

Các thành viên đạo tràng phải giữ gìn sự tu tập tại nhà một cách siêng năng và chăm chỉ vì đây chính là giá trị của sự tu hành.

Có trách nhiệm khuyến tu với tất cả các thành viên trong gia đình thành gia đình phật tử.


3) Hành hương, hoạt động chung:
Định kỳ hàng năm đạo tràng tổ chức đi thăm quan các di tích Phật giáo hoặc đi cứu trợ những nơi khó khăn, các trẻ em nghèo, các bệnh viện, trại trẻ mồ côi,..

Tổ chức cho đạo tràng đi học tập, đi tham dự các buổi lễ, buổi diễu hành, …do thành hội phật giáo Hà nội tổ chức

Thăm hỏi khi có thành viên ốm đau, gia đình có người mất, ….

Chương III-Qui ước nếp sống, tư cách của người phật tử

I. Tình thương chân thật.

Chúng ta là những người Phật tử cần phải tôn trọng sự thật. Hơn nữa, chúng ta lại là những bạn sen cùng tu một pháp môn. Lòng từ bi của Phật thương yêu tất cả muôn loài. Chúng ta cần nên tập tu theo hạnh từ bi của Phật. Chúng ta hãy thật sự thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Chúng ta là người một nhà, hãy xem nhau như tình huynh đệ.

Vẫn biết, tật tánh ganh tỵ đố kỵ của chúng sanh là một tập khí khó trừ khó đoạn. Nhứt là đối với phái nữ. Nhưng chúng ta phải ý thức rằng, chúng ta niệm Phật là để mỗi ngày trở nên giống Phật. Mà Phật thì không bao giờ biết ganh ghét một ai. Phật không có phân biệt kẻ thân, người  thù. Phật coi mọi người đều bình đẳng như nhau. Biệt nghiệp của mỗi người sai khác nhau, làm sao chúng ta muốn ai cũng như nấy cho được. Nếu chúng ta niệm Phật mà lòng còn ganh ghét người nầy hoặc thù hằn, giận tức người kia, thì thật sự chúng ta chưa phải là người biết niệm Phật. Đó chỉ là miệng niệm suông ở đầu môi chót lưỡi mà thôi! Như thế, thì làm sao tương ưng với pháp môn mà chúng ta đang tu, thật hành.

Đức Phật khuyên mỗi người chúng ta cần phải bỏ tật tánh xấu ác nầy. Chúng ta hãy thật sự thương yêu, trân kính nhau. Chúng ta không phải chỉ biết nói thương yêu nhau trên đầu môi chót lưỡi, mà chúng ta cần phải biểu lộ ra bằng hành động phát xuất từ tấm lòng chân thật của chúng ta. Hãy thể hiện tinh thần: “chị ngã em nâng hay ngược lại cũng thế”. Chỉ có tấm lòng chân thật đó mới tồn tại trong lòng của mỗi người. Dù mai nầy thân xác của chúng ta có tiêu tan ra thành tro bụi, nhưng tinh thần nghĩa cử yêu thương đó vẫn tồn tại mãi theo dòng thời gian và trong lòng người muôn thuở.

Chúng ta hãy tập tánh hỷ xả của Đức Phật. Hãy nghĩ đến lý vô thường-khổ-vô ngã, thấy cái chết cận kề, xảy ra cho ta bất cứ lúc nào, thì tội gì chúng ta phải chuốc lấy khổ đau nặng nề cho ta. Nghĩ thế, thì chúng ta mới có tình thương chân thật với mọi người. Đó là một yếu tố quan trọng để tự tu thân và cũng để xây dựng cho đạo tràng.

Được thế, thì tình bạn của chúng ta thật là tốt đẹp biết mấy. Điều nầy, ta cương quyết làm được. Chỉ cần ta mở rộng tấm lòng bao dung, tha thứ, hỷ xả với mọi người, thì mọi việc đều an vui tốt đẹp.

II. Lắng nghe, hiểu và cảm thông.

Lắng nghe là một phương pháp mà mỗi pt phải thực tập. Cứ thực tập một cách nghiêm chỉnh đi, rồi chúng ta sẽ cảm nhận sự mầu nhiệm của nó. Khi thực tập tu chỉnh bản thân ngày một thuần thục rồi, từ đó chúng ta sẽ lắng nghe, hiểu bất cứ sự vật, con người xung quanh ta với tấm lòng Từ-Bi-Hỷ-Xả.

Khi lắng nghe người đối diện bày tỏ nỗi lòng của họ, ta mới có hiểu rõ và dễ cảm thông. Không có gì vui nhẹ bằng, khi có người biết lắng nghe ta nói. Thái độ lắng nghe rất quan trọng mà đạo tràng chúng ta cần phải thực tập. Tuy đây là một vấn đề mới nghe qua, ta cho là tầm thường, nhưng khi thực sự thật hành ta mới cảm thấy khó khăn. Vì ở đời ai cũng thích nói, hơn là thích lắng nghe.

Lắng nghe là một nghệ thuật dễ chinh phục tình cảm. “Bạn hãy chịu khó lắng nghe, thì bạn sẽ thấy sự dễ thương và có duyên của nó”.

Trong đạo tràng, chúng ta cần chia sẻ những khó khăn, những khúc mắc mà các bạn sen của chúng ta không may gặp phải. Hiểu, thương và thông cảm, đó là nhịp cầu tối thiết yếu mà mỗi người chúng ta nên thực hiện. Có thế, thì tình bạn sen của chúng ta mỗi ngày càng thêm thắt chặt nhau hơn. Ba yếu tố nầy không thể thiếu, khi chúng ta sống chung sinh hoạt trong đạo tràng.

III. Dùng lời ái ngữ khi giao tiếp.

Người dân ở cõi Cực Lạc, họ giao tiếp với nhau bằng tất cả tấm lòng chân thật. Họ không biết dùng sáo ngữ trên đầu môi. Lúc nào, họ cũng thốt ra toàn là những lời ngọt dịu dễ nghe. Vì thương kính nhau, nên họ mới có những lời nói êm tai không vụ lợi. Tuyệt đối, họ không bao giờ nói thêm bớt, gian dối, lường gạt, ly gián với bất cứ ai. Lời họ nói ra như đinh đóng cột. Không có trao chuốt, theo kiểu ngọt mật chết ruồi. Họ xử sự rất thành thật với nhau. Do đó mà họ không bao giờ có đôi chối. Đó là nếp sống cao đẹp của nhân dân ở thế giới Cực Lạc.

Đạo tràng chúng ta đã và đang hướng đời mình về thế giới Cực Lạc. Thế thì, chúng ta cũng nên bắt chước cách nói năng hòa nhã, dịu ngọt, đầy lòng từ ái thương mến quý kính nhau. Khi cần tiếp xúc nói chuyện với nhau, mỗi người nên dùng lời ái ngữ. Chỉ có lời nói ái ngữ mới đem lại nguồn vui hạnh phúc cho nhau.

IV. Chào nhau trong niềm tôn kính.

Người ở cõi Cực Lạc, mỗi khi gặp nhau, họ chào nhau rất là tôn kính. Khác hơn cõi nầy có nhiều cách biểu lộ chào nhau. Đấy là tùy theo phong tục tập quán của mỗi quốc gia, mỗi tôn giáo mà sự chào nhau có sai khác. Người theo đạo Phật, ngoài cách chắp tay, chúng ta nên niệm câu Nam mô phật, hoan hỉ, lành thay. Đó là lối chào vừa thể hiện nét đẹp lịch sự của con người, nó còn có ý nghĩa là thức nhắc lẫn nhau trong ý nguyện nhớ Phật. Họ chào với tất cả tấm lòng thành thật quý kính. Chớ không phải chào theo lối xã giao thường tình. Đó là lối chào của người đời. Chúng ta phải học hỏi bắt chước theo lối chào nhau của người ở cõi thanh cao. Họ chào nhau bằng tất cả sự quý kính, thương yêu trong lòng. Chắp hai bàn tay lại, theo hình hoa sen búp, đó là nói lên ý nghĩa cao đẹp phát xuất từ tấm lòng thương kính. Chào nhau là một hình thức biểu lộ nét đẹp của người tu. Chớ không phải chào nhau để lấy lệ coi thường.

V. Giữ nụ cười theo bước chân đi.

Cười là một thái độ của miệng biểu lộ một niềm vui. Khi ta mỉm cười là lòng ta phải thực sự tươi mát. Cười không những mang lại hạnh phúc cho chính ta, mà nó còn ảnh hưởng đến những người chung quanh. Nhưng nụ cười đó phải được toát ra từ chánh niệm. Cười có mặt trời ý thức soi sáng. Nụ cười như thế mới thực sự có giá trị.

Tại sao người ở cõi niết bàn, khi họ gặp nhau đều tươi cười? Phải chăng họ cười xã giao hay cười lấy lệ? Họ cười thật đó! Nụ cười của họ toát ra từ cõi lòng thanh tịnh an vui. Nếu người ở cõi Niết bàn có nụ cười đó, thì tại sao ở đây mình lại thiếu vắng nụ cười đó? Chúng ta có thể thực tập được nụ cười tươi mát đó mà! Chúng ta không nên có tự ty mặc cảm. Rằng, chúng ta ở cõi Ta Bà luôn luôn đau khổ. Không. Chúng ta cần phải chuyển đau khổ thành nụ cười tươi vui an lạc. Đó là quyền chuyển đổi của chúng ta.

Chúng ta muốn trở thành người ở cõi Niết bàn trong tương lai, thế thì tại sao chúng ta không xây dựng tạo cho ta có một nụ cười an lạc trong hiện tại? Chúng ta nên nhớ, tương lai có ra, đều phải được xây dựng tạo thành bằng chất liệu hiện tại. Không xây dựng bằng chất liệu hiện tại, thì tương lai thật khó bảo đảm thành tựu. Mong sao, trong đạo tràng của chúng ta ai nấy đều có những nụ cười an lạc, thật thoải mái vui tươi như hoa. Trên môi luôn nở nụ cười chánh niệm. Đó là một hạnh phúc tuyệt vời mà bạc tiền không thể mua được.

VI. San sẻ công việc.

Người ở cõi Cực Lạc, có thể họ không có những công tác như:  nấu ăn, rửa chén, quét nhà, nhổ cỏ, lặt rau, hành đường, lau dọn… như chúng ta ở đây. Nhưng có điều chắc chắn là họ phải có sự sinh hoạt tập thể. Như đi hái hoa cúng dường chư Phật, rồi cũng đi kinh hành niệm Phật, nghe kinh, thuyết giảng v.v… Đó là những sinh hoạt thường nhựt của họ. Trong Kinh diễn tả đời sống hằng ngày của họ là như thế. Tuy việc làm có nhẹ nhàng đến đâu, thì mỗi người cũng phải có trách nhiệm. Ai cũng ý thức được bổn phận trách nhiệm của mình.

Công việc của đạo tràng chúng ta, tuy có bận rộn hơn ở cõi Cực Lạc, nhưng chúng ta vẫn có tổ chức nề nếp, trật tự, mỗi người đều có phận sự san sẻ chia nhau mà làm. Nếu mỗi người làm trong niềm hoan hỷ an lạc, những thành viên có nhiệm vụ đã được đạo tràng tin tưởng giao phó công việc, thì có phần chịu thiệt thòi về việc tu học hơn những vị không có trách nhiệm. Vì chúng ta còn ăn, còn mặc, còn có những nhu cầu thiết yếu cho đời sống của cõi nầy, nên chúng ta phải có bổn phận chia nhau gánh vác công việc. Nhưng có điều, khi chúng ta được phục vụ cho đại chúng, thì chắc chắn, chúng ta có được một niềm vui, dù ít hay nhiều chúng ta đều có. Niềm vui đó chính do mọi người đem lại cho ta. Nếu không có mọi người, thì làm gì ta có được niềm vui đó. Như vậy, ta phải mang ơn mọi người đã cho ta niềm vui.

Nghĩ thế, thì ta làm trong một tinh thần hỷ xả, thương yêu, vui vẻ. Người ở cõi Cực Lạc không có cơ hội được phục vụ cho mọi người như chúng ta ở đây. Đó là niềm tự hào của chúng ta. Tuy nhiên, khi làm công việc mang tính phục vụ cho đại chúng, ta phải ý thức rằng, nói cho mọi người, nhưng thật ra tất cả cũng chỉ vì ta mà thôi. Vì ta muốn có phước nhiều để mai sau ta hưởng. Nếu làm không có phước bù đắp lại, thì chắc chắn chúng ta cũng không thể nào làm. Không ai làm một việc không công bao giờ. Biết thế, thì khi làm ta nên cởi mở, vui vẻ và san sẻ công việc với nhau.

VII. Bất thối chuyển.

Người sanh về thế giới Cực Lạc được cái nhân duyên thù thắng là bất thối chuyển. Nghĩa là chỉ có một bề tu hành tiến tới không bao giờ lùi bước. Họ tu học không lui sụt cho đến ngày viên thành Phật quả mới thôi. Đó là một nét rất đặc thù tuyệt diệu mà cõi nầy không có. Người tu ở cõi Ta Bà hay có chứng bệnh khi trồi khi sụt. Lúc thì tinh tấn rất mực, khi thì biếng trễ bê tha. Có ngày thì niệm Phật thật nhiều; có ngày thì vì bận công kia việc nọ nên quên niệm Phật. Có người còn viện cớ bận rộn, ngày nay niệm không đủ số, ngày mai niệm bù.

Lại thêm mắc phải cái chứng bệnh nghe đâu chúc đó. Lòng tin Phật pháp không vững, nay đến chỗ nầy mai chạy chỗ kia. Họ là người thuộc dạng ba phải, thiếu lập trường. Nay tu theo pháp môn nầy, mai chạy theo pháp môn khác. Nay đến chùa nầy mai chạy đến chùa kia. Nơi nào có tình cảm, khéo chìu chuộng, tiếp đón họ một cách nhiệt tình thì họ đến. Nơi nào lơ là không ngó ngàng đến họ, thì họ bái bai.

Cứ thế mà chạy lòng vòng. Người ta gọi họ là đạo vòng vòng. Cuối cùng, họ không đạt được kết quả gì cả. Họ là người thật đáng thương xót! Người ở cõi Cực Lạc họ được thường xuyên nghe Phật và các vị Bồ tát thuyết giảng chánh pháp, nên việc tu học của họ tiến bộ rất nhanh. Đồng thời, được thêm cái nhân duyên thù thắng hơn nữa, là tất cả đều là bạn lành. Ai cũng là thiện nhân cao đức dễ thương.

Mọi người đều thức nhắc trao đổi học hỏi Phật pháp với nhau. Không bao giờ nghe tiếng thị phi. Đó là một thắng duyên làm cho họ tiến đến đạo quả rất nhanh. Ngược lại, ở cõi nầy, nghe tiếng đạo đức thì ít, mà nghe tiếng thị phi thì nhiều. Từ đó, mà họ sanh tâm nhân ngã bỉ thử, khởi tham sân si chấp trước đủ thứ. Người khuyến nhắc tu hành thì ít, người nói chuyện đời hơn thua phải trái thì nhiều. Người sách tấn tu học theo chánh pháp thì ít, người nói bàn ra, khuyến khích theo con đường tà ngoại, trụy lạc bê tha thì nhiều.

Chẳng những thế, họ còn chế giễu những ai đi chùa, tụng kinh bái sám. Quả cõi nầy là một chướng duyên, thật khó tiến đạo nghiêm thân. Có người khi mới bước chân vào đạo, gặp phải một vài nghịch cảnh, chướng duyên thử thách nào đó, như có ai nói xấu chê bai, gây cho họ bực tức, thì họ thối tâm chùn bước ngay. Từ đó, họ không bao giờ bước chân đến chùa. Thế là họ bị thối thất bồ đề tâm.

Có người gặp cảnh khổ đau, như trong thân nhân có người chết, rồi bạn bè khuyên lơn an ủi tu niệm, lúc đầu thì họ phát tâm tinh tấn, nhưng dần dà về sau mãi mê với công việc làm ăn rồi bỏ ngang sự tu hành. Cho nên, muốn giúp nhau không lui sụt như người ở cõi Cực Lạc, chỉ có đạo tràng mới thức nhắc khuyến tấn nhau tu hành đạo Phật.

Chúng ta cũng có phước duyên thường xuyên đến chùa tu học. Ngoài những ngày tuần rằm định kỳ ra, chúng ta còn dự những buổi thời pháp khi có đủ nhân duyên mỗi thàng vài ba lần. Những thời gian nầy là cơ hội ngàn vàng để mỗi người chúng ta tinh tần hơn trong việc học hỏi giáo pháp Đức Phật. Chúng ta luôn có thầy bạn thức nhắc. Nếu không có đạo tràng, thì việc tu hành của chúng ta khó được tiến bộ. Cho nên, năng lượng tăng thân soi sáng cho nhau rất là quan trọng. Nhờ thường xuyên nghe pháp, mà pháp thân huệ mạng của chúng ta ngày càng tăng trưởng.

Đồng thời, đó cũng là nguồn năng lực thúc đẩy chúng ta tinh tấn thêm lên. Nhờ vậy, mà sự tu hành của chúng ta mỗi ngày có thêm tiến bộ. Và cũng nhờ đó mà đường về Cực Lạc của chúng ta ngày càng thâu ngắn lại. Đó là một hướng tiến mà đạo tràng của chúng ta đã và đang thực hiện.

Chúng ta cùng nhau quyết tâm xây dựng một đạo tràng lý tưởng cụ thể ở tại nơi đây. Đó là ý nguyện chung của chúng ta. Bằng vào sự gia hộ của Tam Bảo và gần nhứt là sự hướng dẫn chỉ giáo của Đại Đức Thích Thanh Huân cũng như sự quyết tâm xây dựng của mỗi phật tử, thì chắc chắn đạo tràng của chúng ta quyết định phải đạt được kết quả tốt đẹp cao. Kính mong, mỗi liên hữu nên ý thức đến sự sanh tử khổ đau, mãi trôi lăn trong vòng lục đạo luân hồi, mà mỗi người nên hạ quyết tâm tài bồi công đức, niệm Phật tu hành nhiều hơn nữa, để sớm đạt thành sở nguyện.

Kính chúc quý phật tử thân tâm thường lạc, tịnh nghiệp tinh chuyên, bồ đề quả mãn, Phật quả chóng viên thành.

Trụ Trì Chùa Pháp Vân

 

TT Thích Thanh Huân

Trưởng chúng         Phó trưởng chúng   Phó trưởng chúng   Phó trưởng chúng

Phó trưởng chúng    Phó trưởng chúng   Phó trưởng chúng   Phó trưởng chúng