dotretho.net- <cao tran, thiết kế nhà thông minh- nhà thông minh- kenhtretho.net, iwin 474 Cho may tinh ong nuoc, driver may tinhpvc, ong pvc, ong hdpe, voi nuoc , đèn led âm trần, đèn led âm trần, đèn pha led, dự án vinhomes mễ trì, Vinhomes paradise mễ trì

Hoạt động tu học

KINH SÁCH TU HỌC CĂN BẢN

Đến chùa cần biết

Pháp học cho phật tử

PHÁP hành cho phật tử

Phật giáo giữa đời thường

Thống kê truy cập

Trực tuyến: 28

Lượt truy cập: 3296596

Liên hệ Hỗ trợ

Tel: (+84)436.425.460
Mobile: 0941673456

Sơ đồ chỉ dẫn

Kinh tu học căn bản » Giới luật »


Số lượt xem: 2401
Gửi lúc 22:07' 16/09/2014
Từ vựng tiếng Pali

Gần như mỗi từ trong Pāli có từ cùng nguồn gốc trong các "ngôn ngữ Ấn-Aryan Trung cổ" Prakrit khác, ví dụ, Jain Prakrit. Quan hệ với Sanskrit trước đó (ví dụ, tiếng Vệ-đà) là ít trực tiếp hơn và phức tạp hơn. Theo lịch sử, ảnh hưởng giữa Pāli và Sanskrit có thể cảm nhận ở cả hai chiều. Sự giống nhau giữa tiếng Pāli và Sanskrit thường được cường điệu bằng cách so sánh nó với những tác phẩm sau này bằng Sanskrit—mà chúng được viết ra nhiều thế kỉ sau khi Sanskrit đã không còn là một ngôn ngữ sống nữa, và bị ảnh hưởng bởi các phát triển trong vùng Trung Ấn, bao gồm cả việc mượn trực tiếp một phần từ vựng Trung Ấn; trong khi đó, phần lớn các thuật ngữ Pāli sau này được mượn từ những từ vựng Sanskrit của các ngành tương đương, hoặc là trực tiếp hoặc là với một số thay đổi về cách phát âm nào đó.

Pāli sau này cũng có một vài từ mượn từ các ngôn ngữ địa phương nơi mà Pāli được sử dụng (ví dụ người Sri Lanka thêm từ trong tiếng vào Pāli). Những sử dụng này phân biệt Pāli tìm thấy trong Suttapiṭaka và các tác phẩm sau này chẳng hạn như các lời chú giải Pāli trong các bộ kinh và các câu chuyện dân gian (ví dụ, các câu chuyện bình giải Jātaka), và các nghiên cứu so sánh và xác định niên đại của bản sách dựa trên những từ vay mượn đó bây giờ trở thành một ngành chuyên môn.

Pāli không phải chỉ được sử dụng trong việc truyền đạt những lời dạy của Phật, bởi vì tồn tại nhiều bản sách khác không liên quan đến tôn giáo, như là các sách về y khoa, bằng tiếng Pāli. Tuy vậy, các nghiên cứu học thuật về ngôn ngữ này tập trung vào các tác phẩm tôn giáotriết học, do cánh cửa độc nhất vô nhị mà nó mở ra trong một giai đoạn phát triển của Phật giáo.

Quan điểm Emic về Pāli

Mặc dù trong truyền thống Bà-la-môn, tiếng Sanskrit được cho là một ngôn ngữ không thay đổi được nói bởi các thần linh, trong đó mỗi từ hàm chứa một ý nghĩa quan trọng, quan điểm này đã không được chia sẻ trong các truyền thống Phật giáo thời xưa, mà trong đó từ ngữ chỉ là những dấu hiệu quy ước và có thể thay đổi được. Cả Phật và những người theo ông thời xưa không chia sẻ quan điểm của các bà-la-môn về sự kính trọng đối với tiếng Vệ-đà hay là kinh sách. Quan điểm này về ngôn ngữ đã được mở rộng một cách tự nhiên đến Pāli, và có thể đóng góp vào việc sử dụng nó (như là một xấp xỉ hay là chuẩn hóa của các phương ngữ Ấn-độ Trung cổ) thay cho Sanskrit.

Tuy nhiên theo như suy nghĩ thông thường, các lời tụng kinh bằng tiếng Pāli thường được cho là có những quyền năng siêu phàm (có thể là do ý nghĩa của lời kinh, bản chất của người tụng, hay là chất lượng của bản thân ngôn ngữ), và trong những bản văn Phật giáo cổ người ta có thể thấy Pāli dhāraṇī được sử dụng như là những câu thần chú, ví dụ để chống rắn cắn. Nhiều người trong các văn hóa Phật giáo Theravada vẫn còn tin rằng thề thốt bằng tiếng Pāli có một sự quan trọng đặc biệt, và, như là một ví dụ về quyền năng siêu phàm được gán cho việc tụng kinh trong thứ tiếng này, tụng lên những lời thề của Aṅgulimāla được tin là làm giảm đau trong quá trình sinh nở ở Sri Lanka. Ở Thái Lan, việc tụng một phần của Abhidhammapiṭaka được tin là có lợi cho người vừa mới qua đời, và lễ này có thể kéo dài cho đến bảy ngày. Một điều thú vị là, không có một thứ gì trong văn bản kể sau có liên quan đến chủ đề này, và nguồn gốc của phong tục vẫn chưa rõ.

Hệ thống âm vị

Các nguyên âm

Cao Kéo về sau
Trước Giữa Sau
Cao i [i]

ī [iː]

u [u]

ū [uː]

Giữa e [e], [eː] a [ɐ] o [o], [oː]
Thấp ā [aː]

Các nguyên âm dài và ngắn chỉ tương phản nhau trong các âm tiết mở; trong các âm tiết đóng, tất cả các nguyên âm luôn ngắn. Các âm eo dài phân bố bù trừ nhau: các thay đổi ngắn chỉ xảy ra trong các âm tiết đóng, các thay đổi dài chỉ xảy ra trong các âm tiết mở. Các âm eo ngắn và dài do đó không có âm vị khác nhau.

Các phụ âm

Nơi phát âm Cách thức phát âm
Các điểm dừng Gần đúng Xát
Câm Phát âm Không có bên cạnh Bên cạnh
không bật hơi Bật hơi Không bật Bật hơi Mũi Không bật Bật hơi Không bật Bật hơi
Âm vòm k kh g gh
Âm vòm c ch j jh ñ y
Âm quặt lưỡi ṭh ḍh ḷh
Âm răng t th d dh n
Âm ổ răng r l s
Âm môi p ph b bh m
Âm môi răng v
Âm tắc thanh hầu h

Các âm liệt kê bên trên, ngoại trừ , ḷh là các âm vị khác nhau trong Pāli. chỉ xảy ra trước các điểm dừng của các âm vòm. ḷh là tha âm vị của ḍh khi chúng xảy ra đơn lẻ giữa các nguyên âm.

Ví dụ tiếng Pāli

Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā,
Tato nam dukkhaṃ anveti, cakkaṃ'va vahato padaṃ.

Phân loại từng từ một

Mano-pubbaṅ-gam=ā dhamm=ā, mano-seṭṭh=ā mano-may=ā;
Mind-before-going=m.pl.nom. dharma=m.pl.nom., mind-foremost=m.nom.pl. mind-made=m.nom.pl.
Manas=ā ce paduṭṭh=ena, bhāsa=ti vā karo=ti vā,
Mind=n.sg.inst. if corrupted=n.sg.inst. speak=3.sg.pr. either act=3.sg.pr. or,
Ta=to naṃ dukkhaṃ anv-e=ti, cakkaṃ 'va vahat=o pad=aṃ.
That=from him suffering after-go=3.sg.pr., wheel as carrying(beast)=m.sg.gen. foot=n.sg.acc.

Ba từ ghép của hàng đầu theo nghĩa đen là:

manopubbaṅgama "đi trước đó là trí óc (Tâm)", "trí óc (Tâm) như là người đi trước hay là lãnh đạo"
manoseṭṭha "thành phần trước nhất là trí óc (Tâm)", "trí óc (Tâm) như thủ lĩnh"
manomaya "chứa đựng trí óc (Tâm)" hay "làm ra bởi trí óc (Tâm)"

Dịch nghĩa sát: "Dharma với trí óc (Tâm) là lãnh đạo, trí óc (Tâm) là thủ lĩnh, được làm ra bởi trí tuệ. Nếu [ai đó] nói hoặc hành động với một trí óc (Tâm) mục nát, từ [nguyên nhân] đó đau khổ sẽ bám theo anh ta, như là bánh xe [đi theo] vết chân của con vật kéo."

Một bản dịch có vẻ tự do hơn bởi Acharya Buddharakkhita

Trí óc (Tâm) đi trước mọi trạng thái tinh thần. Trí óc (Tâm) là thủ lĩnh; tất cả đều làm ra từ trí óc (Tâm).
Nếu một người hành động hay nói với một trí óc (Tâm) không trong sạch đau khổ sẽ theo anh ta như bánh xe đi theo vết chân bò (kéo xe).
Tác giả: sưu tầm Tuệ Đông
Nguồn tin: wiki

Các tin khác



«Quay lại

↑ Top


Các khóa tu

Tiêu điểm

Bình chọn

Bạn thấy phiên bản mới của website Chùa Pháp Vân thế nào?

  • Rất tiện lợi và chuyên nghiệp
  • Giao diện đẹp và dễ dùng
  • Chức năng dễ dùng
  • Cũng bình thường
  • Ý kiến khác

: Bình chọn : : Kết quả :

(Đã có 667 lượt bình chọn)