dotretho.net- <cao tran, thiết kế nhà thông minh- nhà thông minh- kenhtretho.net, iwin 474 Cho may tinh ong nuoc, driver may tinhpvc, ong pvc, ong hdpe, voi nuoc , đèn led âm trần, đèn led âm trần, đèn pha led, dự án vinhomes mễ trì, Vinhomes paradise mễ trì

Hoạt động tu học

KINH SÁCH TU HỌC CĂN BẢN

Đến chùa cần biết

Pháp học cho phật tử

PHÁP hành cho phật tử

Phật giáo giữa đời thường

Thống kê truy cập

Trực tuyến: 48

Lượt truy cập: 3236772

Liên hệ Hỗ trợ

Tel: (+84)436.425.460
Mobile: 0941673456

Sơ đồ chỉ dẫn

Pháp hành cho phật tử » Ý nghĩa, điều cần biết về hành thiền »


Số lượt xem: 1149
Gửi lúc 12:54' 24/12/2013
Từ Bồ đề đến Đạo Quả

                                                             DẪN  NHẬP

               Nguyên lý của việc ngăn chận, giảm thiểu, đoạn trừ phiền não, cấu uế có thể tìm hiểu, tìm đọc được ở nhiều nơi, tuy nhiên người viết mong muốn người đọc nên đọc đi đọc lại nhiều lần để có được sự hiểu biết ở nhiều góc độ, nhiều thứ lớp nhằm đem ra thực hành, kiểm nghiệm cho đến khi đạt được kết quả - tức là phiền não đã được giảm bớt đi. Người đọc cần nhẫn nại, cố gắng đọc cho hiểu và xin đừng chán nản trong việc học hỏi cho chính mình, chứng nghiệm cho chính mình. Sự chiến thắng phiền não, cấu uế của nội tâm không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì trong hiện tại phiền não tiến triển rất nhanh, đi xa hơn cả trí tuệ, trí tuệ đuổi theo không kịp, nếu không biết phương cách tốt thì sẽ thành người luôn luôn chiến bại trước phiền não.

              Có một điều nữa xin được nhấn mạnh là cần dằn lòng trong khi đọc, chấp nhận để kiểm chứng trước, đừng dùng phiền não quyết định đúng sai. Chẳng hạn như  cảm nhận  với  sự cảm nhận, nghĩ, suy, phóng tâm, biết cảm nhận, an tâm với sự đặt tâm ở mỗi cửa (căn môn) khi nhận đối tượng. Xin đừng nghi ngờ hoặc cảm thấy là lạ với các ngôn từ: nghĩ, suy, phóng tâm mà sẽ được đọc qua là không cho nghĩ, suy, phóng tâm nhưng đến chỗ này thì lại nói rằng “dù là nghĩ, suy, phóng cũng có thực tánh pháp”.

              Điều cấm đoán ấy có nghĩa là cấm sử dụng nghĩ, suy, phóng trong lúc thực hành thiền tuệ, nhưng nếu hành giả bắt kịp với hiện tại thì vẫn được nghĩ, suy, phóng thông qua cảm nhận suy, cảm nhận nghĩ, cảm nhận phóng tại thời điểm đó, thế mới là  chân nghĩa pháp (paramatthadhamma). Đừng quên là hãy tìm hiểu cho thật tốt, nếu còn hoài nghi thì đọc lại để khỏi hiểu nhầm. Lúc bắt tay vào hành mà nhận đối tượng bằng tự nghĩ, tự suy, hay phóng tâm là không thể được. Xin nhấn mạnh là nên dùng đến cảm nhận nghĩ, cảm nhận suy, cảm nhận phóng mới là chân nghĩa pháp.

              Lại nữa, ngôn từ được dùng trong cuốn sách này có thể không được trau chuốt, hay ho, hoặc là câu kéo còn vụng về, hay lấy từ ngữ chuyên môn dùng trong giới tu học Phật Pháp. Ở đây chúng tôi sử dụng ngôn ngữ của chân đế (chân nghĩa pháp) với sự cố gắng để chuyển thành ngôn ngữ nói, cũng nhằm mong cho người đọc hiểu được, hành theo được, chứng nghiệm được rằng có kết quả thật sự hay không mà thôi. Nếu có làm cho bạn đọc khốn khó trước việc phải đọc để hiểu những ngôn từ không thuận tai, không mát lòng thì cũng thành thật xin lượng thứ cho.

 

                             PHƯỚC  BÁO CỦA VIỆC HÀNH THIỀN TUỆ

(Acharn Nép  Mahảníranônd)

                Trước thời Đức Phật giác ngộ, Giới cũng đã có rồi, Bố thí cũng đã có rồi, Thần thông  như bay, lượn, đi trên hư không cũng đã có rồi; có người đã hành được rồi. Đức Đạo Sư đã đản sanh, tạo dựng ba-la-mật cùng thời với họ. Cái mà chưa có vào thời ấy là  Tứ Niệm Xứ, Bát Thánh Đạo. Cả hai loại này là cùng một pháp thôi: Thanh Tịnh Đạo, cũng chưa có vào thời ấy. Tứ Niệm Xứ không có, Bát Thánh Đạo không có, Thiền Tuệ (Vipassanā) không có nốt (nếu hành đúng đắn thì các pháp này đều quy vào nhau được). Các pháp này chưa hiện hữu cho đến khi Đức Chánh Đẳng Giác chứng ngộ. Loài người vào thời đó không có cơ hội, các chúng sanh vào thời đó không có cơ hội để hành các thiện pháp này đâu.

              Đến lúc Đức Phật giác ngộ rồi, Ngài tuyên thuyết các thiện pháp này, con đường dẫn đến Niết-bàn cũng hiển lộ trên thế gian, Phật pháp mà tiêu vong thì con đường này cũng diệt tận. Cho nên các Ngài dạy rằng người nào sinh ra gặp được Phật pháp xem như  đắc lộc tối thượng, được quả báo nhiều vô kể. Đắc lộc thế nào? Đắc lộc do bởi được hành thiện pháp như thế, tạo thành duyên lành để thoát khỏi luân hồi khổ não. Các loại thiện pháp khác không thể giúp thoát khổ được, cho nên gọi là đắc lộc tối thượng. Chúng ta sinh ra được gặp Phật pháp, nhưng chúng ta chẳng biết gì cả, các thiện pháp như thế chẳng bao giờ chịu tạo dựng cả. Một khi đã như thế, việc sinh ra gặp Phật pháp cũng bằng không, nào có được lợi ích gì đâu. Chúng ta chỉ say mê bố thí, trì giới v.v… mà những pháp này thì bên ngoài Phật giáo cũng có, bởi vì đã có từ trước rồi, thường hằng trên thế gian rồi. Chỉ có thiệp pháp đã nói này thôi là chưa có, là món lộc tối thượng. Có cơ hội hành các thiện pháp này coi như là được phước báo vô cùng vậy.

              Do thế, chúng ta nên hành, được hay không cũng mặc kệ, nhưng thiện pháp thiền tuệ này phải tạo dựng bởi vì chúng ta đang có cơ hội thực hành. Chúng ta cần phải hành nhằm tiếp tục tạo duyên lành, bởi lẽ nếu cho rằng chết là hết thì chẳng phải làm gì cả; nhưng chúng ta tin rằng chết không phải là hết, luân hồi tử sinh vẫn hiện hữu, cho nên chúng ta cần thực hành để tạo duyên lành tiếp theo. Về điểm này, Đức Phật có dạy Ngài A-nan: “Cho dù Như Lai còn tại thế hay đã nhập diệt thì nếu một ai đó là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cận sự nam hay cận sự nữ đã trụ vững trên Pháp này rồi; Như lai sẽ tán thán người đó là bậc cao thượng.” Cái gì trụ vững ? Tâm trụ vững trên pháp này, ấy là quán sát thân, thọ, v.v…tức là Tứ Niệm Xứ.  Đức Phật ca ngợi người đó là bậc cao thượng và còn dạy rằng: “Này A-nan, hãy nương tựa chính mình, đừng dựa vào người khác, hãy lấy mình làm nơi nương nhờ của chính mình và lấy Pháp làm nơi nương nhờ cho chính mình.” Thế nào là lấy mình làm nơi nương nhờ ? Người gọi là lấy mình làm nơi nương nhờ của chính mình; là người quán sát thân, quán sát thọ, quán sát tâm, quán sát pháp, một loại nào đó trong Tứ Niệm Xứ. Người có tâm của mình trụ trên Tứ Niệm Xứ được gọi là người nương tựa chính mình, có pháp là nơi nương tựa của chính mình và là người đặt tâm trụ trên Tứ Niệm Xứ. Nếu là người thật sự không có tâm lực để đối phó với phiền não cấu uế (kilesa) tức là người không nương tựa vào chính mình được thì không đến với pháp được đâu, không đến được thật mà; có nhiều chướng ngại, không đến được, sẽ gặp chướng ngại kiểu này kiểu nọ. Người đặt được tâm trụ trên Tứ Niệm Xứ phải là người chiến thắng được phiền não; khi đã chiến thắng phiền não rồi thì các trợ duyên của thiện pháp sẽ tạo cơ hội cho tâm trụ được trên Tứ Niệm Xứ, thế mới đến được. Cần phải chiến thắng các phiền não sơ khởi đã, nếu không thế thì nó chẳng chịu đâu, phiền não sẽ lôi kéo đi thôi. Địa ngục chẳng có thiện pháp dẫn đi đâu, chỉ có phiền não lôi kéo đi cả thảy, nhưng nếu lên thiên đường thì chính thiện pháp sẽ đưa đi vậy. Còn như người nào không thể chiến thắng phiền não thì khó mà trụ vững trên các pháp này được. Do vậy, người trụ tâm được sẽ được gọi là  người nương tựa chính mình, người có năng lực, có khả năng làm cho mình thành nơi nương nhờ và có được pháp làm nơi nương nhờ.

              Lại nữa, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, lúc Đức Phật gần nhập diệt, chư thiên biết được hôm ấy Ngài bệnh nặng và vào thời điểm kia Ngài sẽ Niết bàn nên nói với nhau rằng: “Chúng ta hãy cùng đến lễ bái cúng dường Đức Chánh Đẳng Giác ngay hôm nay thôi, tiếp đến sẽ không còn cơ hội lễ bái cúng dường được nữa.”  như thế rồi cùng nhau rải hoa trời để cúng dường Ngài. Cánh rừng tràn đầy những đóa hoa trời do chư thiên dâng cúng. Đức Phật truyền dạy Ngài A-nan: “Này A-nan, chư thiên ấy cúng dường Như Lai bằng các đóa hoa trời nhiều vô kể, đầy tràn cả khu rừng; cho dù như thế cũng không phải là Như Lai nhận sự cúng dường của các vị thiên ấy.”

              Nếu ta đem đồ đi cho ai mà họ không nhận thì gọi là  đã cho  họ sao ? Gọi là chưa cho, đúng không ? Việc ta cúng dường cũng thế, nếu Ngài không nhận thì không gọi là cúng dường. Khi nào mà một người nào đó thấy được hiểm họa của luân hồi tử sinh rồi nỗ lực để thoát khỏi luân hồi khổ não, việc làm của người ấy được gọi là Như Lai nhận sự cúng dường. Thấy không, việc chúng ta thực hành này đây là sự cúng dường đến Đức Chánh Đẳng Giác. Người nào tu tập để thoát khỏi khổ não, tức là luân hồi khổ não, chính điều này gọi là Đức Như Lai nhận sự cúng dường. Hết thảy chúng ta là những người cung kính Đức Phật, thế thì tại sao chúng ta cúng dường Ngài độ 7 ngày, 15 ngày không được sao ? Chính sự cúng dường này của chúng ta gọi là Đức Như Lai nhận cúng dường. Đức Phật nhận cúng dường bằng pháp hành thì tại sao chúng ta không hành  pháp hành  để cúng dường Ngài.

              Do thế, xin hãy biết rằng việc chúng ta đến hành thiền này là phù hợp với việc chúng ta cung kính Đức Chánh Đẳng Chánh Giác vậy. Chúng ta đến cúng dường Ngài và mỗi lần mà chúng ta có chánh niệm biết rõ danh, sắc là tương đương với việc Ngài tán thán chúng ta một lần. Thu thúc mắt thấy (sắc), chỉ là thấy thôi, đang biết là thấy, không hướng ra ngoài. Lúc thấy, ta có chánh niệm biết là  danh thấy. Danh nghe cũng giống nhau, thu thúc nhãn căn, Ngài cũng tán thán; thu thúc nhĩ căn, Ngài tán thán nữa. Lúc có chánh niệm biết là  nghe  thì phiền não vào không được, do bởi đối tượng là hiện tại; phiền não vào không được thì  tham sân  tiêu trừ.

              Hãy nghĩ xem, bao nhiêu là thiện pháp trong việc chúng ta đến hành tại nơi này, ngoại trừ những người có tội lỗi nặng nề hoặc là có phiền não sâu dày không thể chiến thắng được để trụ trên các pháp này, ngoài ra thì vẫn còn được thiện pháp trên mỗi oai nghi, bất luận là ngồi nằm đứng đi, mỗi bước đều có thiện pháp; thấy, nghe, ăn cơm đều là thiện pháp. Ăn cơm để tạo tác luân hồi tử sinh cũng có, ăn cơm để thoát khỏi khổ não trầm luân cũng có. Trước khi ăn cần quán xét rằng ăn để làm gì, ăn để giải trừ khổ. Ngũ uẩn này cần thức ăn, có ngũ uẩn này cũng khổ bởi vì ngũ uẩn phải nương vào thức ăn nhằm để sống còn. Kế đến cần quán xét rằng sống để làm gì, sống để đạt đến Đạo, Quả, Niết bàn. Pháp cần phải biết thì chưa biết, pháp cần thấu rõ chưa thấu rõ, khổ cần thoát chưa thoát được. Sống chỉ nhằm các mục đích như thế thôi.

              Giờ thì chúng ta ăn cơm một cách đúng đắn rồi, không phải ăn vì ngon, bởi lẽ ngon thì tham mà không ngon thì sân, cứ thế mà diễn tiến mà tạo nên luân hồi. Phiền não chính là kẻ tạo tác luân hồi, tạo tác triền miên. Ăn cơm một bữa chẳng biết đã tạo dựng luân hồi khổ não bao nhiêu lần, đến độ không biết khởi thủy và chung cục là đâu. Đúng thế, cần quán xét như vậy, đi tắm cũng cần tắm với trí tuệ nhằm thoát khổ. Thấy, nghe, đi, đứng, ngồi, nằm cũng nhằm thoát khỏi luân hồi khổ não tất tần tật. Đi làm sao cho thành thiện pháp, ngồi cũng thành thiện pháp, nằm cũng vậy, ăn cơm cũng thành thiện pháp, tắm táp, tiểu tiện, đại tiện cũng thành thiện pháp. Một ngày thiện pháp đếm không xuể, chẳng biết mấy ngàn, mấy vạn lần.

              Chúng ta sẽ tạo thiện pháp gì mà cho được nhiều đến như vầy, lâu lâu làm phước một lần, lâu lâu hộ độ chư Tăng một lần, lâu lâu mới đi lễ Dâng Y một lần, rồi đừng nghĩ rằng lúc làm phước, nuôi Tăng hay dâng y đó thì bất thiện pháp không xen vào. Rõ ràng khó mà được thiệp pháp một cách toàn vẹn và thanh tịnh, bởi vì lúc làm mà không được như ý thì sự bực mình nổi lên. Một số người cùng đi làm phước, dâng y rồi cãi vã nhau, trở về thành chuyện lớn cũng có; nó chẳng thanh tịnh như vầy đâu. Cho nên đừng dễ duôi, để ngày tháng trôi qua, nói rằng khất lại đã hôm sau sẽ tới, như vậy cũng gọi là dễ duôi rồi.  Chúng ta là kẻ sinh sau, có thể không rõ thiện pháp như thế họ đã thực hành thế nào, ngay thời điểm này cũng nhập nhằng quá đi. Thiền tuệ, Tứ Niệm Xứ thời buổi này có quá nhiều, đếm không xuể.

              Do vậy, mọi người nên hoan hỷ, xin hãy quyết tâm thật tốt, bởi lẽ đấy là điều khó kiếm, là pháp cao thượng nhất. Đức Phật mong muốn chúng ta hành thiện pháp dạng này; nếu chúng ta không làm như thế, chỉ say mê vào việc bố thí, trì giới là những pháp mà có thể làm lúc nào cũng được, luôn sẵn có trên thế gian thì khi mà Phật pháp tiêu hoại rồi sẽ không có cơ hội để làm nữa. Lại nữa, chúng ta có tin hay không rằng tái sinh lần nữa thì có thể gặp Phật pháp? Thậm chí nếu được gặp thì chắc gì đã vào được, bởi vì người gặp lại cũng nhiều lắm nhưng chẳng chịu bước vào.

              Cho nên, chúng ta có đắc hay không đắc cũng cứ tạo công hạnh trước đã, tiếp đến nếu được tái sinh lần nữa thì cũng còn có trợ duyên tạo cơ hội gầy dựng tiếp tục. Quý vị đã đến đây rồi thì tôi tin chắc rằng đã có công hạnh từ trước, dù là ở nơi đâu, tận Chiang-Rai cũng đến được; nếu không tạo công hạnh từ trước thì dẫu là ở tại Om-Nói này cũng không chịu vào thực hành đâu. Bởi vậy cơ hội chúng ta vào đây là cơ hội để tạo đại thiện pháp cao thượng. Cơ hội để chúng ta làm điều tội lỗi là dễ dàng lắm, còn để làm thiện thì khó vô cùng. Một khi đã có cơ hội quý hóa như vầy, chúng ta cần phải biết đấy là điều hết sức có giá trị và cũng là góp sức bồi đắp Phật giáo nữa. Bởi lẽ, việc bồi đắp và hộ trì Phật giáo trường tồn đến chừng nào còn có người hiểu biết, truyền bá, giữ gìn thì cần có người tiếp nhận với sự hiểu biết, không phải là ở trong sách vở, kinh điển. Ở trong sách vở kinh điển thì chẳng có ích lợi gì. Phải là ở trong chúng ta, hiểu biết, truyền bá, chuyển giao đến người khác thì Phật giáo mới phát triển, lan truyền; nếu người hiểu biết chết đi, không có người kế tục thì xem như triệt tiêu.

              Nếu cả hai phận sự (phận sự học và phận sự hành) đang còn hiện hữu thì Phật giáo còn tồn tại. Phật giáo còn tồn tại là do hai phận sự này đang còn, nếu hai phận sự, công tác này không còn nữa, xem như hết luôn.

              Bởi thế, người nào đã vào đây rồi thì tôi cho rằng có phước lớn, tuy nhiên các chướng nghiệp nào nhảy vào cắt đoạn ấy lại là chuyện khác, không còn có điều gì nữa đâu. Nó không cho ta đến cũng vì phiền não, nó không cho ta ra đi cũng là phiền não, nếu chưa thắng được phiền não thì ta cũng không đến được. Hết thảy mỗi một chúng ta đều sống dưới quyền năng của Ma vương, bên trên tính hết 6 cõi trời cũng sống dưới quyền năng của chúng. Chỉ có một nhóm không sống theo quyền năng ấy thôi, đó là các bậc Thánh A-ra-hán. Ma vương sai sử, làm gì cũng không được cả. Trên cả quyền năng của Ma vương là phiền não, người có phiền não thì phải sống dưới quyền năng của Ma vương hết thảy.

              Vì vậy mà Ma vương đã đến năn nỉ Đức Phật hãy nhập Niết bàn gấp, nếu Ngài còn tại thế lâu thì sẽ dạy cho chúng sanh giải thoát hết thảy. Cho nên người thắng được phiền não phải là người có phước thật nhiều, việc mà tôi đang cố gắng nỗ lực này cũng là để được phước ấy thôi. Nếu quý vị làm cho thiện phước phát sinh hoặc trí tuệ phát sinh thì tôi cũng được thiện phước vậy. Tôi thường nhắc hoài rằng nếu muốn tri ân thầy tổ thì chẳng phải gì nhiều, chỉ cần hành thiền minh sát để phát sinh trí tuệ mà thôi. Như vậy thì xin quý vị hãy quyết tâm sống trong thiện phước này, nếu thật sự không nhớ được thì xin đừng ra khỏi nơi đây, hãy chiến thắng cho được phiền não, nếu thắng được lần này thì còn có hy vọng chiến thắng tiếp nữa. Cho nên, xin cho tác ý tốt mà quý vị đã quyết tâm đến hành thiện pháp là nhằm phục vụ Phật pháp và trụ vững trong lời dạy của Đức Chánh Đẳng Giác.

              Nguyện cầu uy lực của thiện pháp này, hãy là món duyên lành cho quý vị có đủ tâm lực và sức khỏe, chánh niệm và trí tuệ viên mãn và Tứ Niệm Xứ ấy hãy là trợ duyên đắc lực để thấu hiểu Giới Pháp của Đức Phật tùy theo sở nguyện; và cầu xin những chướng ngại, nguy tai đừng cản ngăn con đường dẫn đến Đạo, Quả   Niết bàn.

                                                   ĐỌC CHO CÓ HIỆU QUẢ

              Trong lời dạy của Đức Phật, mỗi từ ngữ được chế định (paññatti) ra có ý nghĩa riêng biệt, nhiều vô kể và có giá trị, lợi ích đối với chúng ta rất nhiều, thậm chí còn giúp cho ta thoát ly luân hồi khổ não được. Từ ngữ chế định mỗi từ, mỗi câu này đọc xong cảm thấy rằng chẳng có gì cả, là câu nói thường ngày, viết lặp đi lặp lại, đọc xong thấy ngán, người viết công nhận rằng sự thật là như vậy. Nhưng người đọc đã tự hỏi mình hay chưa, rằng điều đã đọc từ đầu ấy, người viết bảo hãy làm gì, rồi đã làm theo hay chưa, và đã làm cho thấu rõ như người viết bảo không. Hoặc là viết sai chỗ nào, đúng chỗ nào, đem ra hành rồi mà không được kết quả như đã viết. Cách đọc sách không phải là đọc được, đọc giỏi, đọc đúng, đọc nhiều, đọc nhanh, nếu đọc kiểu này thì không phải là đọc sách về pháp hành thiền tuệ. Đọc sách về pháp hành phải đọc để biết, đọc rồi thì hiểu, đọc xong thì đem ra hành được ngay, như thế mới gọi là người biết đọc sách. Đọc xong hiểu nghĩa đúng như họ đã viết cho ta biết, ta hiểu; không phải là đọc rồi không hiểu, đọc rồi quên, đọc xong hiểu nghĩa theo ý mình hoặc đọc rồi tìm chỗ để phản bác, tìm lỗi để chỉ trích; cách đọc như vầy gọi là người không biết đọc sách.

              Tóm lại, về cách đọc sách thì nên đọc để thu thập lợi ích cho mình. Đặc biệt với loại sách pháp thí được tặng mà không hy vọng được lợi lộc, địa vị, danh tiếng và an lạc gì cả, người đọc cần tự hỏi bản thân là họ được gì và mình được gì, mất gì. Nếu có câu kết luận được gì - mất gì rồi thì việc đọc sẽ tốt hơn lên và bản thân sẽ có được lợi ích trong hiện tại và cả tương lai.

                                                  QUÁ KHỨ VÀO NĂM 1996

              Có một vị tỳ khưu, cá tánh cống cao ngã mạn, cố chấp, hay nổi sân, chẳng chịu tin, chẳng chịu nghe ai cả. Người dạy thiền kiên nhẫn chịu đựng, nhiều lần cũng chán nản. Hôm nọ chịu không nổi bèn vẽ hình 3 cái ca cùng với dòng chữ đem đi dán ở phước xá nơi chư Tăng nhận đặt bát. Cho thấy rằng, việc làm này có kết quả và vị ấy giảm bớt cố chấp, ngã mạn, sân hận, dễ nghe và bớt cứng đầu.

Tệ thật, tay ta không rảnh để mở nắp, thế thì sẽ rót nước vào ca sao đây, chủ nhân ông của cái ca không muốn nhận nước. Thôi tùy nghiệp vậy. Cũng tạm rót được, nhưng rót khó một tí, chịu khó vậy hơn là đậy nắp ca, hết cơ hội. Chiếc ca này chẳng đẹp đẽ gì, giá cũng bèo, nhưng  chủ nhân là một người tỉ mỉ, cẩn trọng và hiểu biết, đã chùi rửa sạch sẽ chuẩn bị nhận nước. Bởi lẽ biết rằng người cho nước gặp khó khăn khi rót cho nên người chủ ca có trí đã mở nắp đợi nước rót vào. Vì thấy rằng người ta đem nước đến cho mỗi ngày nên thương tâm, mở nắp ra để họ rót thuận lợi hơn và họ đã rót đầy ca. “tưởng là bọn nước trà tràn ly vậy”

TẦM CẦU PHƯỚC THIỆN

                        Người có đức tin nơi Phật giáo và biết quả báu của phước thiện nên đã tầm cầu phước thiện. Tuy nhiên cũng cần suy xét xem rằng cái mà mình đang tìm kiếm ấy có phải là phước thiện hay không, hay chỉ là nhân duyên để phát sinh phước thiện mà thôi. Thế thì phước thiện ở đâu, ở với cái gì? Điều này đáng quan tâm để biết và cần tìm tòi bằng tri thức nhằm không bị sai lệch với ý định mong muốn ban đầu đã đề ra.

              Theo được biết thì phần nhiều người ta tìm kiếm trú xứ, vì họ cần một trú xứ yên tịnh, sạch sẽ, tiện lợi, an toàn và con người ở đấy từ tâm, thiện cảm, mát mẽ, chìu lòng theo mọi kiểu của người đến thăm, phục vụ tận tụy như ý hết mức; chẳng hạn cung cấp thức ăn theo yêu cầu, người phục dịch lễ độ, đáng mến, có giới hạnh, nói năng lịch thiệp, có kỹ cương phép tắc.

              Lúc mà đã có một trú xứ nào đó tốt như thế, đảm bảo rằng nơi đó sẽ có người ra vào tấp nập. Hỏi rằng phước thiện sẽ phát sinh ở điểm nào đối với người đến trú xứ này? Thật ra thì phước thiện nào đâu có phát sinh với những người này. Điều mà phát sinh chính là phiền não, bởi lẽ mọi thứ đều là món ăn của phiền não, cho nên tìm không thấy trí tuệ đâu và những người ấy cũng không biết phước thiện đang ở nơi nào.

              Sự thật thì  Pháp  mới làm phát sinh phước thiện. Pháp ở chỗ nào vậy, pháp có mặt trong mọi thứ tại trú xứ ấy; nhưng không một ai quan tâm để quán sát ấy là pháp, pháp hiện hữu cả. Vì sao vậy? Bởi vì mọi người đều đến với tâm mong cầu điều mà mình muốn đạt được, cho nên bỏ quên  rằng nơi đó có họ điều gì tốt, điều gì cần học tập… Không những thế, mỗi người đều đến rồi đem những thứ mà mình tích lũy được ra phân phát, bởi vì nghĩ mình biết rồi, biết nhiều hơn. Ta từng đi nhiều nơi, từng nghe pháp của sư phụ này, sư tổ nọ,… ta đọc nhiều, nghe nhiều, biết nhiều lắm lắm… Kiểu này nẩy sinh đến hầu hết những người vào chùa, vào các thiền viện; lúc ấy có lẽ quên mình đi rằng cái mà mình biết nhiều ấy lại không thấy đem ra áp dụng nhằm đem lại lợi ích, chỉ là thu thúc giới luật đơn đơn thôi không thấy đem dùng cho hữu ích với bản thân. Một khi đã như thế thì điều gì sẽ nẩy sinh đối với hạng người này? Cái mà thấy rõ nhất là họ thường ra đi tìm kiếm chỗ mới. Trú xứ nào ưng ý thì đến hoài, nếu không ưng ý thì một đôi lần rồi biến đi mất. Kết quả là tốn tiền đi đường, nguy hiểm với tai nạn, phiền não vươn dậy do sự đi lại…

              Việc bố thí cúng dường cũng có giá trị, chỗ nào đang xây dựng cũng đến tham gia, nhưng quyết tâm để làm thành phước thiện thì thú thật là khó, bởi vì tâm nghĩ xả bỏ ấy ít được thanh tịnh, thường có sự tham muốn và sự thấy sai và hiểu sai nhiều loại xen lẫn vào trong lúc suy nghĩ, làm nẩy sinh sự lưỡng lự không tin chắc vào mình và cả người khác cho đến những trú xứ đã trải qua. Không biết được lời dạy vị thầy nào là đúng là sai, bởi vì bản thân không bao giờ đem những lời được nghe ấy ra tư duy, tìm hiểu lý lẽ. Những lời dạy đó quy về bố thí được không, quy về trì giới được không, quy về tham thiền được không, mỗi loại ấy cho quả như thế nào? Chẳng hạn như tu tập thiền minh sát tuệ, sẽ cho quả đến người hành là ngăn cản, giảm bớt phiền não đang có ở nơi mình và giảm nhẹ xuống v.v… Tuy nhiên đáng tiếc là không chịu đem ra dùng, phần đông đến chùa, đến thiền viện chỉ nhặt muối lên xe, bỏ vào giỏ đem về nhà, tích lũy rất nhiều; nhưng chẳng một ai nếm thử xem muối ấy rằng tại mỗi nơi có vị như thế nào: mặn, mặn chát, mặn chua chua, mặn đắng, v.v… không có ai nếm cả, đáng tiếc thật! Đúng vậy, người tầm cầu phước thiện đi đủ chùa chiền, đến tận các nơi cùng trời cuối đất, vì không chịu đem ra thử nghiệm nên phải đi xa, tốn thì giờ đi với phiền não nhiều hơn được phước thiện.

              Nguyên nhân tạo ra như thế ắt không thoát khỏi phiền não: tham lam, tà kiến, si mê, ích kỷ, ... Vì những nhân này mà người ta tích lũy muối và không biết vị của nó ở mỗi nơi, mỗi chỗ ra sao. Khi đã biết thế rồi thì xin hãy nếm thử tại mọi nơi mà họ cho nếm. Đi tìm họ để nhận lấy chứ không phải để đến cho họ, cho dù là đi đâu, đi để khoe trình độ, khoe khả năng, đem đồ của mình cho họ mà quên rằng mình đang  thất niệm, đến chỗ của họ với quyết tâm là sẽ nhận lấy thì lại móc của mình ra phân phát. Phải nên nhặt lấy kiến thức rồi đem ra thử nghiệm, không chỉ là nghe, không chỉ là suy nghĩ, phải ra tay hạ thủ công phu cả thân lẫn tâm. Đến đâu không nên dùng miệng để nói toàn những gì cũ kỹ của mình mà nên dùng miệng để hỏi, hỏi cho đến khi hiểu; kiến thức của mình nếu là tốt thì giữ lấy, nếu chứng minh được rằng của mình tốt hơn thì không cần phải đến nhận của họ.

              Pháp của Đức Phật nếu chứng nghiệm được thì lừa nhau không được đâu. Bởi vì mọi điều đều có nhân - quả luôn trùng hợp nhau. Lúc nghe, nên quán xét theo, suy nghĩ theo rồi đem thử nghiệm tìm lý lẽ đúng như lời dạy hay không. Với người có trí tuệ thì cho dù là rác rưởi cũng đem ra tạo được công ích, còn người đầy phiền não thì dẫu có  pháp  dẫn dắt mình vượt khỏi luân hồi cũng bỏ qua, không biết giá trị, ích lợi và chẳng biết là nên hay không nên.

HIỂU SAI VỀ TỰ NHIÊN

              Pháp là tự nhiên, mỗi chúng ta sống với tự nhiên tức là thường xuyên sống với pháp, chúng ta gần gủi với tự nhiên nhưng không biết về tự nhiên, thường bỏ qua tự nhiên.

              Tự nhiên không có phiền não cấu uế, nhưng con người làm cho tự nhiên sai khác đi, con người biến đổi tự nhiên. Con người tràn đầy phiền não, ái dục sống với tự nhiên, cùng nhau làm thay đổi tự nhiên suốt. Đến khi cần tới tự nhiên thì vẫn sử dụng tự nhiên với tâm lý đầy ái dục và phiền não. Tự nhiên chẳng biết chuyện gì cả, tự nhiên giống như một người ngu, hoặc giống đồng hồ cần có người lên giây cót, nhưng đừng quên rằng tự nhiên là như nó đang hiện hữu, như nó đang là, không một ai có thể thay đổi nó được. Ví như trái bắp, tự nhiên sắp xếp các hạt bắp thật là đẹp; trái mãng cầu cũng như vậy, cả bên trong lẫn bên ngoài đều được  xếp rất có trật tự, những trái nho cũng xếp thành chùm theo tự nhiên của nó. Về phần con người thì có trí, nhiều tham vọng, đầy tự cao, tâm tưởng vi tế nên đã cố tạo tác sao cho giống tự nhiên, nhưng dẫu sao vẫn không theo kịp tự nhiên được. Ví dụ nặn trái mãng cầu chỉ giống ở bên ngoài, chứ không thể nặn cho giống cả bên trong lẫn bên ngoài như tự nhiên được.

              Cũng như thế, Pháp tức là tự nhiên, không cho phép ai sắp đặt, tạo tác, thậm chí cả sáu cửa của chính mình cũng không thể sắp đặt được (sáu cửa là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Pháp luôn hiện hữu, pháp luôn thanh tịnh và cần đạt được bằng sự thanh tịnh, không phải đạt được bằng sự sắp đặt, tạo tác của phiền não và cấu uế. Vẫn còn có vấn đề trong giới những người học và hành Đạo (không nói đến những người bên ngoài vì họ thuộc về thế gian pháp, khó nói trực tiếp lắm), trong giới này người ta thường đem những quan kiến của bên ngoài ra dùng, như là tự nhiên chỉ có đối với cá nhân, tức là của người là của người, của loài vật là của loài vật, của cây cối là của cây cối. Họ sẽ chia ra từng phần của người, của vật,…mỗi loại có sự thấy biết khác nhau, của ai là của người đó, chẳng có từ bi, chẳng liên hệ ràng buộc nhau, người thì lo việc của người, vật thì thích chuyện của vật. Dạng suy nghĩ như thế là không tin vào nghiệp, vào quả của nghiệp, làm ác làm thiện chẳng quan tâm. Tà kiến kiểu này có nhiều lắm, nhưng họ trở lại tin ở tự nhiên, chấp thủ vào tự nhiên, và họ tin vào tự nhiên mà họ đã chế biến ra, tự nhiên thật sự  thì họ không biết đến.

              Những người chấp vào chế định pháp và hiểu tự nhiên sai lệch với sự thật thì xin hãy đến mà thử suy xét nhân quả của tự nhiên đúng như chân như thật - cái được gọi là pháp; rồi thử chứng nghiệm với điều đã nói rằng: “tự nhiên là pháp, pháp là tự nhiên” ấy, sự thật đúng đắn là thế nào.

              Thật ra, điều đúng đắn là trên thế gian này chỉ có  danh    sắc  mà thôi. Nhưng do sự hiểu biết sai lệch, thay đổi theo phiền não cấu uế và tăng lên nhiều cho đến hiện tại này đây thì quên đi và không biết rằng tại sao trên thế gian này chỉ có danhsắc thôi. Về mặt tự nhiên mà nói, danh và sắc là cặp đôi của thế gian này thì thật ra là như vầy: cái gọi là  sắc  ấy bao gồm cây cối, vật thể đồ đạt, mọi thứ có mặt trên thế giới, ngay cả thân thể của con người hay thú vật cũng xếp vào là sắc hết thảy, sự nóng, sự lạnh, mềm, cứng,… không có cái gì mà trốn ra khỏi danh xưng  sắc  cả. Về phần gọi là  danh  ấy, chính là tâm - có khả năng nhận biết đối tượng các loại, còn với quả tim là một cục thịt, thì khi đem ra mổ xẻ cũng chỉ là một loại sắc mà thôi.

              Kết luận được rằng mọi thứ mọi cái chỉ là trạng thái, thực tướng của sắc thôi. Sự biểu lộ thực tánh của sắc đó cũng không ra ngoài thú vật, con người, đồ đạc, khái niệm. Trạng thái của sắc cũng chính là trạng thái của tự nhiên hiện có, và đi đôi của thế giới loài người. Tuy nhiên, do việc chúng ta được giáo dục, dạy dỗ để dùng các ngôn ngữ chế định từ cha mẹ, bà con, thầy cô suốt thời gian dài đến độ quen thuộc thành ra không thể hiểu biết được tự nhiên, được sự thật. Chỉ biết đến từ ngữ, khái niệm chế định do năng lực của phiền não, sinh ra chấp thủ vào các loại ngôn ngữ chế định và không thể thay đổi được. Thực tướng của sắc dáng đủ loại phân chia theo tự nhiên đó đều có tên gọi cho mỗi thứ và rồi chấp dính vào tên gọi ấy nên quên đi bản chất thật sự rằng chỉ là một sắc mà thôi, nhưng có vóc dáng, màu sắc khác nhau.

              Hiện nay, khổ não các loại sinh khởi, nguyên nhân là do sự chấp thủ nơi các sắc dáng và tên gọi khác nhau chí đến sự dính mắc vào nhãn hiệu và giá tiền mà đã được quy định ra rồi và cũng chưa từng biết đến ấy là khổ. Chẳng hạn như trẻ con còn bỏ bẻ chưa biết gì, nó chỉ biết chân thật nghĩa (paramattha = đệ nhất nghĩa đế hay chân đế). Lúc nằm trong nôi, người mẹ đưa hai ngón tay cho em bé nắm để ngồi dậy thì nó chỉ biết nắm cho chặt mà thôi, không biết cái đang nắm đó gọi là ngón tay và người mà cho nắm đó là mẹ. Em bé không biết về khái niệm, ngôn ngữ chế định, chỉ biết về chân thật nghĩa của sự cảm nhận mà thôi. Về sau, đứa trẻ lớn dần, phiền não cấu uế bắt đầu nảy sinh, lúc đó nó sẽ bắt đầu học hỏi những gì mà mình thích, mình mong muốn do năng lực của tham lam phiền não, ghi nhớ sự hài lòng thích thú và biết phản bác dưới năng lực của sân si; ví dụ: muốn mẹ bồng ẵm v.v… vì được mẹ quen chìu chuộng.

              Kể từ đó, đứa trẻ sẽ được dạy về  khái niệm chế định  rồi bắt đầu ghi nhớ khái niệm, tên gọi các loại và dần dần quên  chân thật nghĩa  hết đi. Cuối cùng cái thật là chân thật nghĩa hay gọi là  paramattha  hoặc là thực tánh của tự nhiên sẽ biến mất khỏi tâm can, chỉ còn lại khái niệm chế định và sự chấp thủ dính mắc vào vật chất, đồ đạt, chúng sanh, con người v.v… mà tất cả các loại này đều có tên và gọi tên, nhớ tên, chẳng còn  cái thật  nào để lại cả.

              Do nguyên nhân của việc bỏ đi  cái thật  theo lẽ tự nhiên này nên làm cho phát sinh khổ não các loại trong cuộc sống thường ngày. Mê lầm rồi chấp thủ vào tên gọi chúng sanh, con người, khái niệm, đồ vật cho rằng là ta, của ta trong khi thực tánh của danh và sắc lại không có. Khi được cơ hội vào nghe lời dạy của Đức Phật, chỉ cho thấy rằng pháp chính là tự nhiên, tự nhiên chính là pháp thì ngạc nhiên sửng sốt, tìm không ra. Giờ đây tuổi đã lớn, thay đổi quan kiến sai lầm thành đúng đắn thì lại không thể chấp nhận được. Ví dụ như mắt nhìn đồ vật, khi được chỉ cho biết là thấy  màu sắc  hoặc  hình dạng  thì không chịu, lại tranh cãi rằng cái mà mình thấy là vật này vật nọ, ai ai cũng gọi như thế cả. Thế thì đến đây để được cho thấy đó chỉ là màu sắc và hình dạng thế nào được, điên rồ thôi, và lại còn càm ràm rằng:  “người hành tinh hay là người tiền sử”.

              Mọi điều cần biết lưu tâm, lấy cái lý của lời dạy của Ngài đem ra suy xét để tìm sự thật đúng theo tự nhiên rằng ấy là cái gì, ở đâu, gặp được bằng cách nào…

              Thật ra thì pháp và tự nhiên có mặt ở bên ngoài thân ta tức là chung quanh ta và cả nội thân ta. Điều quan trọng là khó chấp nhận được ấy là đi đôi với tà kiến (diṭṭhikilesa), nhưng nếu tâm đã được chuẩn bị thu nhận, quyết tâm làm sáng tỏ thì tìm cái lý gì cũng dễ và giải quyết được khổ nạn mỗi khi có vấn đề nảy sinh. Hãy thử chấp nhận sự thật mà xem bằng cách chứng nghiệm tự nhiên.

              Tự nhiên là đồ thật, có thật, hiện hữu, chứng nghiệm được và chịu được sự thử nghiệm, tự nhiên ấy ở đâu?

              Tự nhiên ở nơi thân, tâm hoặc nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của ta, được gọi là tự nhiên bên trong.

              Tự nhiên ở bên ngoài thân ta cũng có, đó là những gì mà ta có thể tiếp xúc bằng thân hoặc cảm nhận được thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chung quanh ta đều là tự nhiên cả, là pháp cả. Tóm lại là những gì bên trong ta, bên ngoài ta, hoặc đang hiện hữu trên thế gian này đều là tự nhiên hết thảy, là pháp hết thảy.

              Do hiểu sai nên sinh ra sự chấp thủ vào chúng sanh, con người, khái niệm, sự vật rồi tạo thành nhân phát sinh khổ thân, khổ tâm và sự khốn đốn chỉ cho thấy sự thật rằng cái đúng là thế nào.    

              Trước khi đi vào làm sáng tỏ thì hãy tìm hiểu về khái niệm chế định các  từ này trước đã rồi sẽ đem ra chứng thực hay thấu đáo. Tên gọi và sự thật cần phải trùng nhau và tâm phải chấp nhận sự thật ấy luôn khi. Một số từ trên thế gian được chế định đem ra dùng sai, đi ngược với lời dạy của Đức Phật và dùng lâu ngày không chịu thay đổi. Ví dụ như: đồ vật, đồ ăn, đồ dùng, con người về phương diện giáo pháp thì có thực tánh là sắc bên ngoài; nhưng thế gian lại gọi là: dĩa, tô, ly, cơm, bánh, người, xe, nhà v.v… đúng ra thì chỉ là  một loại sắc  có hình dáng bên ngoài khác nhau, màu sắc khác nhau. Do vậy chỉ có hình dạng, sắc màu mà thôi là ta có thể nhận thức được bằng thân hoặc bằng mắt. Quá khứ về trước, chúng ta được học từ cha mẹ, thầy cô, họ dạy cho ta biết khái niệm, tên gọi và chúng ta ghi nhớ không quên vì trải qua nhiều năm. Trước lúc trẻ con nói được, chúng đã biết đến sự thật thanh tịnh, ấy là thấy sắc màu thôi, nắm thì biết là mềm cứng; đến khi lớn lên thì được dạy cho biết gọi danh này tên nọ, vào trường lớp thì đi xa quá rồi, không biết dừng lại. Khái niệm chế định rót vào tâm não xóa không được, không chịu đổi và quan trọng là chấp thủ đến độ nẩy sinh khổ não, bởi vì từ “của ta” thay đổi không được nên không chịu cho đi; “ta”, “của ta” khổ thật! khổ thay!

              Đức Phật đã thấy, đã biết, đã trãi nghiệm hết thảy khổ não nên Ngài có lòng bi mẫn đến chúng sanh và để lại lời dạy cho chúng sanh biết đến nhân quả, biết về khổ, nên bỏ ác làm lành và phá bỏ sự dính mắc, tà kiến, hướng đến sự thật. Ngài chỉ đường cho chúng sanh đi theo, đó là Tứ Niệm Xứ nhằm đạt đến Thánh Pháp.

              Cần phải hiểu biết các khái niệm chế định trong pháp hành và tìm cho được sự tương đồng bằng cách đem các khái niệm ra kiểm chứng qua sự cảm nhận. Khái niệm chế định và sự thật cần phải trùng nhau, sẽ ghi lại vừa dùng mà thôi, không nhiều và không khó, cái quan trọng là phải hiểu. Thiền tuệ phải tiến hành bằng tâm và việc giảm thiểu, từ bỏ phiền não cấu uế phải dựa vào trí tuệ. Muốn có trí tuệ thì cần có cái lý đúng đắn, cái lý đúng đắn sẽ tiêu diệt các tà kiến thôi.

              Biết, hiểu, đạt đến, để có cái lý cần qua ba công đoạn, sự tiến hành bằng tâm là chuyện tế nhị, tỉ mỉ nhưng đáng giá, khi đã đến với pháp thì pháp sẽ hộ trì trong mọi cảnh giới, mọi kiếp sống.

              Việc học hỏi, tìm hiểu, sử dụng để đạt được ba công đoạn này là điều quan trọng, không phải chỉ biết một mình chế định pháp không thôi, hãy thử thực nghiệm xem, sẽ học hỏi được cả chế định pháp, chân nghĩa phápthực tánh pháp.

              Từ ngữ khái niệm “lửa” mỗi nước gọi tên khác nhau, không nên dính mắc vào ngôn ngữ rồi phát sinh khổ. Nhưng thực tánh pháp (chân nghĩa pháp) của lửa ở đâu cũng giống nhau, lửa ở nước nào cũng nóng như nhau. Sự nóng của lửa là thứ thiệt, là chân nghĩa pháp, có thể thực nghiệm được và chịu được sự thực nghiệm. Thực tánh pháp mà chứng nghiệm được thì có rất nhiều, chẳng hạn như nóng lạnh, mền cứng, v.v… thực tánh pháp này là đồ thật, có thật và kiểm chứng được. Các thực tánh pháp này là các sắc pháp, ví dụ: sắc nóng, sắc lạnh, sắc cứng, sắc khổ, dù ở xứ sở nào cũng có thực tánh của sắc chân thật nghĩa, nhưng nếu chấp thủ vào chế định pháp ắt là rối lên vì ở mỗi nước chúng có tên không giống nhau.

              Ví dụ về chế định pháp không có thực tánh chân nghĩa pháp làm nền tảng như tên người, tên thú vật, tên đồ vật sử dụng, chẳng hạn: cô Mía, mèo, chó, gáo, ly, dĩa, bàn, thầy cô, điều cần suy xét đến là chế định pháp và chân nghĩa pháp.

              - Cô Mía không có nền tảng thực tánh pháp bởi vì là một chế định pháp gián tiếp.

              - Mèo, chó, gáo, ly, dĩa, bàn là những chế định pháp thật nhưng có thể tìm thấy thực tánh pháp để làm nền tảng được, ấy là sắc dáng của mèo, chó, dĩa, ly, v.v…

              - Nếu biến đổi từ “cô Mía” thành “người” thì cũng có thể tìm được thực tánh của sắc đem ra làm nền tảng, nhưng chế định pháp không không thì chẳng có gì làm nền tảng cả.

              - Thầy cô có “giá trị đạo đức” ở trong chế định pháp ấy làm nền tảng, nhưng không phải là sắc hoặc là danh, chỉ là “giá trị đạo đức” mà thôi.

              Lời dạy của Đức Phật là dạy cho con người thông tuệ, có lý, nhưng con người không chịu hiểu nghĩa theo lý mà chỉ biết thíchkhông thích, rồi chối đẩy hoặc dính mắc mà thôi, có bao giờ chịu suy xét công tội, nên hay không nên đâu. Phiền não cấu uế cứ thế mà thêm lên, nở dậy nhiều hơn, đến lúc tìm đường đến với sự thật nhằm phá hủy tà kiến thì chẳng có. Rồi thì kiếp tái sinh trước mắt sẽ làm sao, bốn cảnh khổ gần với cảnh người, thiên giới cũng kề cận cảnh người, nhưng loài người sẽ đi đâu? Nếu đang còn tà kiến cho rằng lợi lộc, chức phận, danh tiếng, vui thú là điều tốt đẹp, bền vững, thì vô cùng khó khăn để tiến vào con đường dẫn đến Đạo Quả. Đạo Quả cần phải có thời gian dài. Tà kiến, chấp thủ là chuyện không dễ, cần dùng đến trí tuệ của  thiền tuệ mà thôi, bởi vì thiền tuệ là pháp vi tế, có phương cách để tiêu trừ phiền não cấu uế nội tâm. Một khi trí tuệ thiền tuệ phát sinh sẽ bẻ gãy tà kiến, là sự hiểu sai, biết sai, thấy sai, nghĩ sai, và cuối cùng là làm sai. Đáng sợ thật, nếu tới khi làm sai rồi thì khó mà chữa được. Thiền tuệ tốt hơn, lúc thực hành cần đem thực tánh pháp nào là sự thật trong hiện tại, tức là đối tượng thực tại danh - sắc ra làm đề mục quán chiếu.

              Do vậy, khi thực hành, hành giả cần lấy danh - sắc có thực tánh pháp ra làm đối tượng quán sát trong thời điểm hiện tiền, trong sự cảm nhận hiện tiền. Chỉ cần tiếp xúc bằng một tí cảm nhận thôi cũng có giá trị, có ích lợi vô vàn.

              Có giá trị nghĩa là giúp cho mình không tạo tác bất thiện pháp mới thông qua thân, khẩu và ý, bởi vì lúc đó tâm đang duy trì trên đối tượng thiện pháp, là thiện pháp bậc cao mà có thể đoạn trừ, tiêu hủy phiền não cấu uế.

              Có ích lợi nghĩa là trong lúc tâm đang duy trì trên đối tượng danh - sắc đó, thì đó cũng là một cách tích lũy hành trang cho bản thân ở những cảnh giới tái sinh trong vị lai, và trong thời điểm đó các phiền não sẽ không vào được qua các cửa của bản thân mình do bởi thời điểm hiện tiền có giá trị lớn lao.

 

SỰ KHÁC NHAU GIỮA

THIỀN ĐỊNH VÀ THIỀN TUỆ

              Pháp thiền trong Phật giáo có hai loại, gọi chung là tham thiền (bhāvanā) đó là:

              1, Thiền Định (Samathabhāvanā)

              2, Thiền Tuệ (Vipasanābhāvanā)

              Thiền Định là một thiện pháp làm cho tâm yên tịnh, mát mẻ, an lạc và có quả báo là tái sinh vào cõi Phạm thiên (Brahma). Tuy nhiên thiện pháp này cũng đang còn ở trong vòng sanh tử luân hồi, và con người đã từng tu tập được ngay trước thời Đức Phật ra đời.

              Thiền Tuệ là pháp hành khác biệt với thiền định, là thiện pháp được tu tập để thoát khỏi luân hồi tử sinh. Pháp này chỉ có kể từ khi Đức Phật xuất hiện mà thôi và đây cũng là pháp mà Ngài mong muốn mọi chúng sanh, Phật tử đạt đến trí tuệ thiền tuệ này.

              Nếu hành giả không thấu hiểu thì sẽ đem cả thiền tuệ và thiền định ra cùng thực hành hoặc sẽ nghĩ rằng cả hai loại này là cùng một pháp hành và cho kết quả như nhau. Do vậy thiền tuệ sẽ không phát sinh và sẽ không thoát khỏi khổ được, bởi vì thiền định chỉ làm cho tâm mát mẽ, yên tịnh, an lạc. Hành giả sẽ dính mắc vào an lạc, sống với an lạc, đấy là nhân làm cho trí tuệ không thể thấy được khổ theo phận sự của Thánh Đế được và sẽ làm cho hiểu nhầm rằng sự yên tịnh đã đạt được ấy là Niết bàn.

              Người nào quan tâm đến  định  thì cần hiểu các điểm này trước: định có ba loại là:

              - Sát-na định: định trong chốc lát

              - Cận hành định: định sắp đến trạng thái của thiền

              - An chỉ định: là trạng thái thiền định, tâm ổn cố, trụ vững trên một đối tượng trong thời gian dài.

              Hành thiền tuệ sử dụng sát-na định, lúc mà đang nhận mỗi một đối tượng hiện tại, đang diễn ra. Hành giả  đang nhận đối tượng hiện tiền  có thể chuyển đối tượng được nhận theo cả sáu cửa (mắt, tai, v.v…) Chẳng hạn lúc mắt đang theo dõi sắc ngồi, nếu nghe tiếng động lớn thì tâm quay sang theo dõi ở tai, tức là danh đang nghe,…

              Sát-na định là nền tảng làm phát sinh thiền tuệ và nhiệm vụ của thiền tuệ là đoạn trừ phiền não cấu uế tại những nơi mà chúng gá vào để sinh trưởng (sáu cửa: mắt,tai, mũi, lưỡi, thân, ý).

              Xin đừng hiểu nhầm về thiền định nữa, hãy tự đọc và tự hiểu lấy, hiểu được rồi thì tự mình hành lấy, kiểm chứng lấy; sự thật nằm ở chính bản thân mình. Tâm ta thanh tịnh rồi thì quả sẽ tự có, nghe xong cần suy xét, đừng tin điều gì một cách dễ dàng mà không qua kiểm chứng. So sánh giữa thiền định và thiền tuệ, thử tìm hiểu, học hỏi hai pháp này để đừng nhầm lẫn nhau. Hãy nhìn rõ nhân và quả rồi tự mình quyết định lấy rằng sẽ muốn trở thành Phạm thiên để phải sinh tử luân hồi tiếp tục hay là đạt đến Niết bàn thoát ly khổ não.

              Để tránh khỏi bị đánh lừa, cần phải hiểu đúng và biết rõ, cần xác định cái đúng để tự quyết định. Đúng hay sai tùy thuộc vào trí tuệ của mình, không phải tin vào người khác, có tin thì cũng đem ra kiểm chứng trước đã rồi mới hẳn tin.

              Thiền định có từ trước rồi, còn thiền tuệ thì ra đời kể từ khi Đức Chánh Đẳng Giác thành đạo. Hai pháp này khác nhau đến chín điểm, nhân tạo ra không giống nhau nên quả cũng không giống nhau:

              Đặc điểm của pháp hành thiền định:

              1, Thực tánh: diễn tiến theo năng lực của  định

              2, Đối tượng: dùng đối tượng là chế định pháp làm nền tảng của thiền, ví dụ: mười niệm đề mục.

              3, Tính chất: không phóng dật (phóng tâm)

              4, Nhiệm vụ: diệt trừ các pháp chướng ngại (nivāraṇa).

              5, Quả hiện hữu: là sự không dao động trước đối tượng (đề mục), tâm trụ vững trên đối tượng, giống như ngọn đèn không bị gió làm lay động.

              6, Nhân gần: sự an lạc là nguyên nhân gần làm phát sinh định, bởi vì khi tâm an lạc rồi thì sẽ không dao động trước các dục trần nên tâm được tịch lặng.

              7, Ích lợi: dẫn đến các định (samāpatti), làm cho tâm mát mẻ, yên lành, an lạc, bởi lẽ lúc đó tâm thoát ly tham và sân, dễ dàng đắt ngũ thông, cho quả tái sinh vào cõi trời Phạm thiên trong tương lai.

              8, Pháp hành: cần phải hành trên một đối tượng mà thôi bằng cách giữ tâm yên định trên đối tượng đó, thiền định chỉ sử dụng ba cửa là: thân môn, nhãn môn và ý môn.

              9, Phân loại hành giả: có sáu loại là Tham hành giả, Sân hành giả, Si hành giả, Tín hành giả, Giác hành giả và Tầm hành giả. Do vậy người thực hành cần chọn đề mục thích hợp với tâm tánh của mình.

              Đề mục của thiền định có tất cả 40 loại, nhưng chỉ có 30 loại đề mục mà hành giả đem ra thực hành là đưa đến đắc định, số còn lại chỉ đến cận định thôi.

              Đặc điểm của pháp hành thiền định chỉ có bấy nhiêu, phương pháp thực hành thì cũng nhiều, tùy theo người chỉ dạy sẽ bày cho làm gì. Nghĩ cho kỹ, xem kết quả của người bày cho mình làm trước rồi hãy tin, nói không không chỉ là gió thoảng, ngôn ngữ chế định tin không được đâu, lời Phật dạy đang còn đấy.

              Đặc điểm của pháp hành thiền tuệ:

              1, Thực tánh: diễn tiến theo năng lực của  tuệ

              2, Đối tượng: dùng đối tượng là chân nghĩa pháp trong Tứ Niệm Xứ làm nền tảng của thiền minh sát tuệ.

              3, Tính chất: có trí tuệ thấy rõ như chân như thật của thực tánh vạn pháp.

              4, Nhiệm vụ: diệt trừ tham ái đã che lấp sự thật của thực tánh pháp.

              5, Quả hiện hữu: là sự không hiểu sai về thực tánh vạn pháp.

              6, Nhân gần: thiền tuệ có  định  là nguyên nhân gần làm phát sinh, như trong kinh điển có ghi rằng  định  là nền tảng làm phát sinh tuệ, ở đây chính là sát-na định.

              7, Ích lợi: dẫn đến  Lậu tận trí (Āsavakkhayañāṇa) tức là diệt tận các lậu hoặc, đoạn trừ vĩnh viễn các phiền não cấu uế dẫn dắt sinh tử luân hồi.

              8, Pháp hành: đối tượng của pháp hành diễn tiến qua cả sáu cửa, lấy Tứ Niệm Xứ làm đề mục bước đầu. Thiền tuệ không chú trọng đến đối tượng là vi tế hay thô tháp, chỉ quán sát ở sự sinh diệt của danh và sắc, ngay cả các chướng ngại pháp (nivāraṇa) cũng đem ra làm đối tượng của thiền tuệ được như đã thấy trong phần Quán Niệm Pháp (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna), mục Chướng Ngại (Nivāraṇapabba).

              9, Phân loại hành giả: có hai loại là Tham ái hành giả và Tà kiến hành giả, phân chia theo tâm tánh của từng người. Trong mỗi loại còn chia ra hai hạng nữa, ấy là hạng đa trí và hạng thiểu trí. Việc thực hành thiền tuệ cần phải lựa chọn đề mục cho phù hợp với tâm tánh của mình.

              Các đặc điểm của thiền tuệ đã được nêu rõ ở trên, chúng ta cần phải lựa chọn bởi vì hiện tại mỗi chùa, mỗi một thiền viện đều nói là hành thiền tuệ cả. Vào đến nơi nào cần tìm xem cách hành của họ, nghe kết quả của họ, quan trọng là ở kết quả của bản thân họ, xem môi trường chung quanh cho thấy là “thiền tuệ chế định” (vipassanāpaññatti) hay “thiền tuệ chân nghĩa” (vipassanāparamattha). Nếu là “thiền tuệ chế định” thì ngay cả con người, trú xứ, môi trường chúng quanh được tạo dựng nhằm mục đích kinh tế, lợi lộc, danh tiếng, địa vị, sung sướng, đầy đủ mọi bề cả nơi khuất mắt lẫn nơi dễ thấy, trước sau bất nhất.

              Lời giáo huấn đúng đắn là mỗi khi đã vào hành pháp hành thiền tuệ thì lợi, danh, quyền, lạc phải tận trừ. Ăn uống, sử dụng đồ vật chỉ nhằm giải trừ khổ mà thôi, nên có thể nói rằng: sao cũng được, không dính mắc vào cái gì, mọi thứ chỉ để diệt khổ mà thôi. Ngày ngày tích lũy phước thiện, không phạm giới, hướng đến thanh tịnh, huân tập thiện pháp cho đời kiếp tương lai nhằm đoạn trừ sanh tử luân hồi.

              Thiền tuệ chân nghĩa cho quả là diệt tận phiền não cấu uế, là pháp đoạn trừ phiền não một cách trực tiếp. Công đoạn đầu tiên là diệt tận “ta”, “của ta” để không còn dính mắc. Chỉ có trí tuệ thiền tuệ mới đoạn trừ phiền não được thôi, thiền tuệ chỉ dành cho người có trí vậy!

                                 

                                                                                                                                              NHƯ THẬT TÁC Ý

(YONISOMANASIKĀRA)

                Có nhiều sách vở đã nói về như thật tác ý (yonisomanasikāra), với nội dung sâu rộng, giải thích cặn kẽ, tuy nhiên ở đây chúng tôi muốn viết đến nhằm đem ra thực hành, cho nên chỉ viết một cách ngắn gọn, dễ dùng, đủ để áp dụng mà thôi.

              Như thật tác ý có hai loại:

              - Như thật tác ý ngoài thiền tuệ

              - Như thật tác ý trong thiền tuệ

              Trước khi đem như thật tác ý ra sử dụng cần phải loại như thật tác ý ngoài pháp hành ra. Nên suy xét đến đối tượng không tốt đã phát sinh, như thật tác ý tiếp đối tượng rồi suy xét, chuyển biến từ xấu thành tốt, từ tội thành phước. Ví dụ: mua cá sống về làm thịt hay bảo người khác làm để chế biến thành thức ăn, như thật tác ý sẽ suy xét rằng không nhất thiết phải ăn thịt cá sống, cá chết rồi mua về kho nấu cũng được, vì ăn uống chỉ nhằm giải quyết khổ của sự đói khát, không phải ăn uống do tham ăn, bởi sĩ diện, hay vì vinh dự. Phải như thật tác ý theo các lý do như thế. Hoặc là đi xem phim, nghe nhạc, uống rượu, cần như thật tác ý bởi các lý do rằng nên đi, nên làm, hay là không nên, có công, có tội như thế nào. Như thật tác ý cần thực hành mỗi lần, suy xét đến tội phước, lợi hại, nên hay không, suy xét đối tượng hiện hữu thông qua biết nhân, biết quả, biết pháp, biết thời, biết người. Người nào biết dùng như thật tác ý, người đó sẽ không bị thất vọng. Điều cho rằng không bị thất vọng, vì sao dám quả quyết chắc chắn như thế? Xin nói cho rõ một tí là nếu nhà nào, thôn nào, huyện nào, tỉnh nào có người giữ ngũ giới một cách trọn vẹn không phá giới, thử hỏi rằng chỗ nào sẽ có khổ? Gia đình an lạc, sinh sống hạnh phúc, tai họa không có, trộm cướp chẳng sinh, cảnh sát không cần, lính tráng chẳng dùng, sinh vật không bị giết hại, v.v… Tóm lại người sử dụng như thật tác ý sẽ có hạnh phúc an lạc, không làm điều tội lỗi, không phá giới.

              Nhưng ngày nay, thế giới nóng lên bởi vì không sử dụng pháp này, mà lại sử dụng phi như thật tác ý (ayonisomanasikāra), tức là suy xét đối tượng theo chiều ngược lại, suy xét đứng về phía mình. Cho rằng giết sanh hại vật là không có tội vì nó sinh ra là để làm thức ăn cho ta. Thật ra thì nó là thức ăn của ta lúc nó đã chết rồi, không phải giết nó để ăn. Con người thật là ích kỷ, nuôi gà trong nhà, đến lúc muốn ăn thịt gà thì bắt ra làm thịt, chẳng phải tí nào cả, nếu là bản thân mình bị giết thì sao, đấy gọi là phi như thật tác ý.

              Như thật tác ý trong thiền tuệ là suy xét khổ đang hiện hữu đối với danh - sắc theo sáu căn môn và các oai nghi. Một khi căn môn nào đó gặp khổ, như thật tác ý khởi sinh và giải quyết khổ đấy. Ví dụ như đi lâu mỏi, sự mỏi là khổ, trước khi ngồi cần phải biết rằng sẽ ngồi nhằm giải quyết khổ đã sinh ra do đi lâu mỏi; không phải ngồi vì muốn ngồi mà vì khổ bắt phải ngồi. Do vậy, dù có làm gì đi nữa cũng phải nêu lý do trước mới làm, mới giải quyết và phải đúng với sự thật; làm vì ham muốn, làm vì không thích là không được. Đấy chính là như thật tác ý. Mỗi lần sử dụng đại oai nghi hay tiểu oai nghi cần suy xét trước, cho đến việc sử dụng các căn môn phải biết lý do trước khi sử dụng nhằm giải khổ đã phát sinh thì mới giải trừ khổ ấy được.

              Như thật tác ý trong thiền tuệ là việc giải khổ theo nhân quả.

                

ĐỐI TƯỢNG

              Người tu tập thiền tuệ cần có nhận thức về đối tượng, có những đối tượng diễn tiến theo phiền não, có những đối tượng diễn tiến theo trí tuệ. Đối tượng cho dù diễn tiến theo phiền não hay thiền tuệ đi nữa cũng không ra khỏi sáu cửa.

              Đối tượng nghĩa là một sự hay một vật nào đó có đời sống hay không có đời sống đến tiếp xúc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của ta, tâm ta cảm thấy rằng thích, không thích, vừa lòng, không vừa lòng, như vậy gọi là đối tượng, đối tượng hiện hữu mọi thời.

              Đối tượng phát sinh được cần dựa vào tâm là cái nhận biết thông qua các cửa, cho nên gọi là đối tượng của tâm. Nếu đối tượng hiện hữu trước cửa nào đó mà tâm không nhận biết thì xem như đối tượng đó trôi qua không không, chẳng tạo nhân gì cả. Nếu đối tượng nào khởi sinh rồi tâm nhận biết thì đối tượng đó diễn tiến theo phiền não.

              Đối tượng nào vừa phát sinh mà tâm nhận biết ngay trong sát na ấy, đối tượng đó gọi là đối tượng hiện tại. Đối tượng hiện tại có giá trị lớn đối với người hành thiền tuệ, bởi vì đối tượng hiện tại này là đối tượng danh - sắc. Danh sắc là đối tượng hiện tại sẽ là đối tượng của trí tuệ tiêu diệt phiền não, đối tượng của trí tuệ phải là đối tượng hiện tại, không phải là đối tượng quá khứ hay đối tượng vị lai. Và đối tượng hiện tại ấy phải là đối tượng sắc - danh thông qua sự cảm nhận, đối tượng ấy mới gọi là đối tượng hiện tại và được đem ra sử dụng trong việc tu tập thiền tuệ.

              Đối tượng của thiền tuệ là danh và sắc, đối tượng của thiền tuệ trú tại mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, và hành giả sẽ đem đối tượng của thiền tuệ ra sử dụng một khi đã biết rõ ràng về danh - sắc. Khi thực hành cần dựa vào sự cảm nhận qua các cửa, nó sẽ nói cho ta biết rằng danh - sắc hiện tại đối tượng là như thế nào. Hiện tại đối tượng là đối tượng phát sinh trước, tại sát na ấy, không có quá khứ đối tượng, không có vị lai đối tượng; đối tượng phải sinh khởi tại thời điểm ấy và có thực tánh pháp đảm bảo.

              Sự cảm nhận hiện tại sẽ phát sinh lúc mà tâm nhận biết đối tượng bằng sự cảm nhận, thời điểm mà có sự tiếp xúc giữa căn môn và đối tượng. Ở đây, xin được mở rộng nhằm để hiểu biết rồi đem ra sử dụng cho có lợi ích vì có thực tánh pháp đảm bảo.

              Trên thế gian này pháp tự nhiên cùng phát sanh có bốn loại là: chúng sanh, con người, chế định khái niệm và sự vật, cho dù ở thành thị hay núi rừng, tất cả các cái này đều là tự nhiên, và các tự nhiên này đều là pháp cả. Pháp hay tự nhiên này là đối tượng làm phát sinh phiền não hay trí tuệ. Phiền não sinh lên lúc mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc, ý nghĩ ngợi theo thói quen. Nếu muốn trí tuệ phát sinh thì cần phải đem các tự nhiên ấy ra làm đối tượng cho thiền tuệ, tức là thành sắc hay thành danh.

              Đối tượng hiện tại và hiện tại đối tượng cùng với hiện tại pháp liên quan lẫn nhau. Đối tượng hiện tại nghĩa là đối tượng hiện hữu trước mắt tại thời điểm hiện tại ấy với sự cảm nhận tức thời. Còn hiện tại đối tượng là đối tượng hiện hữu mọi thời, sẵn sàng làm cho phiền não phát sinh, bởi vì các đối tượng này là hiện tại pháp đang có mặt. Hiện tại đối tượng có khắp quanh ta nhưng tâm ta không lấy làm đối tượng tại thời điểm hiện tại ấy. Do vậy hành giả tu thiền tuệ cần đặt tầm quan trọng ở đối tượng xuất hiện tại sát na đó, tâm ta nhận biết hay không, quan tâm thực không, đối tượng xuất hiện tại thời điểm ấy phải dựa vào sự cảm nhận, khi đối tượng nó tiếp xúc với căn môn rồi thì ta nhận kịp với hiện tại thực nên gọi là hiện tại cảm nhận. Cho dù là danh, cho dù là sắc, đều là trí tuệ cả. Về phần hiện tại pháp là tự nhiên có mặt trên thế gian rồi, chỉ khác ở đối tượng. Đối tượng ở đây phải qua các cửa để tâm nhận biết mới gọi là đối tượng của ta, lúc đó các đối tượng này sẽ xếp vào phiền não cũng có, trí tuệ cũng có.

              Nếu là đối tượng diễn tiến theo phiền não thì đối tượng đó có tên gọi, khái niệm chế định, và tâm sẽ thích, không thích, vừa lòng hay bất mãn, bỏn xẻn, keo kiệt, của ta tốt hơn, giỏi hơn, v.v…nói không bao giờ dứt.

              Nếu là đối tượng của trí tuệ  tại thời điểm đó không có tên gọi, khái niệm chế định mà chỉ có sắc màu, âm thanh, mùi vị, v.v… là chân nghĩa pháp của danh và sắc mà thôi.

              Cần dùng trí tuệ quán xét đối tượng các loại, dù là đối tượng của phiền não hay là đối tượng của thiền tuệ, cũng cần thông qua sáu cửa và tâm phải nhận biết, có cảm nhận. Tâm nhận biết sẽ là đối tượng của phiền não, tâm cảm nhận sẽ thành đối tượng của trí tuệ do có danh - sắc.

              Các đối tượng khác tuy hiện hữu nhưng không diễn tiến qua sáu cửa thì tâm không nhận biết, chúng sẽ là các tự nhiên có mặt trên thế gian hay còn gọi là hiện tại pháp. Những gì có mặt quanh ta sẽ là đối tượng hay không tùy thuộc vào tâm hay sáu cửa của ta. Năm cửa đầu là đường dẫn qua, tâm là người nhận biết tạo tác, mọi sự đều tùy ở tâm của ta vậy. Trong số ba mươi mốt cảnh giới, thích cảnh giới nào tâm sẽ dẫn đến cảnh giới ấy, tâm là người đưa đi.

                                                                                                                                  HIỆN TẠI CẢM NHẬN PHÁT SINH KHI NÀO

              Hiện tại cảm nhận phát sinh lúc mà tâm tiếp nhận đối tượng đến tiếp xúc với một căn môn nào đó, tại thời điểm ấy tâm lưu ý đến sự tiếp xúc. Lúc đó hành giả có sự cảm nhận như cảm nhận nóng, cảm nhận lạnh, cảm nhận cay, cảm nhận đắng, cảm nhận đau, v.v…Sự nhận biết và sự cảm nhận khác nhau, thiền tuệ nhấn mạnh đến sự cảm nhận, sự cảm nhận rất nhỏ nhiệm và khó nắm bắt, nếu hành giả không quán sát sẽ không thấy được.

              Nói rằng sự cảm nhận nhỏ nhiệm, xin hãy suy xét hình ảnh dưới đây:

              Có thân, có tâm, có sự lạnh, có sự lưu ý.

              - thân tiếp xúc với đối tượng

              - sự lạnh là đối tượng

              - tâm cảm nhận

              - có sự lưu ý nơi đối tượng

              Nếu người hành không có sự chuẩn bị, chưa được an tâm, thiếu sự thu thúc, tâm lý dính mắc vào các chuyện bên ngoài thì sẽ cảm nhận hiện tại sao được?

              Hành giả cần chuẩn bị đầy đủ thân và tâm, có sự thu thúc, làm cho thân tâm đi đôi với nhau:                  

              - tâm và thân là một đôi               

              - tâm và căn môn là một đôi     

lý do của việc ghép đôi giữa tâm và thân hoặc tâm và căn môn là gồm cả thu thúc, cảm nhận, quán sát, trí tuệ vào đây cả.

 

             

 

 

 

 Xin hãy quan sát xem, lúc tâm ở với thân, tại thời điểm đó có sự cảm nhận mình nơi một oai nghi nào đó trong số bốn oai nghi. Ví dụ như đang ở trong tư thế ngồi, vào thời điểm đó sự cảm nhận nơi tư thế, dáng dấp, trạng thái ngồi hiện hữu. Cảm nhận ở sắc ngồi ấy, cảm nhận nơi dáng ngồi bằng tâm vào thời điểm đó gọi là: “sắc ngồi”, hoặc ở tại một tư thế nào thì sẽ là sắc của tư thế đó, ví dụ: sắc đi, sắc đứng, sắc nằm, sắc ngồi. Trong bốn sắc này phải có sự cảm nhận, không thể nghĩ suy, tưởng tượng ra được. Hãy nhấn mạnh sự cảm nhận, tâm hành giả đi đôi với thân lúc nào thì một sắc nào đó trong số các sắc đi, sắc đứng, sắc nằm, sắc ngồi sẽ có đến với hành giả bằng sự thanh tịnh, các sắc này sẽ sinh khởi với sự cảm nhận mà thôi.

              Tại thời điểm hành giả ở với một sắc nào đó, lúc ấy tâm sẽ có sự biến đổi, tiếp nhận đối tượng bên ngoài và vượt ra sự cảm nhận ở sắc. Tâm đi đâu? Tâm bước ra nhận đối tượng qua mắt, tai, mũi, hoặc nóng, lạnh, tâm không ở với sắc đi, sắc đứng, sắc nằm, sắc ngồi; tâm có sự biến đổi, nhận đối tượng theo các tự nhiên bên ngoài giống như trước lúc thực hành.

              Nếu tâm ở trong sự cảm nhận sắc ngồi rồi, không bước ra nhận đối tượng khác nữa, chú mục vào chỉ tư thế ngồi lâu lâu thì cho thấy rằng sai rồi, định  xen vào phát sinh, nên cẩn thận, đừng để quá đi.

              Xin hãy có chánh niệm ghi nhận, đừng để yên lặng như thế lâu lâu, định sẽ có năng lực, sự cảm nhận mình sẽ mất đi, hành giả đừng bỏ rơi sự quán sát mình. Chính sự quán sát là tác nhân phá hủy định, vì định là nhân sinh ra sự yên tịnh.

              Thiền tuệ nhận đối tượng qua sáu cửa không bắt buộc cửa nào lâu cả. Việc tiếp nhận kịp đối tượng mới nảy sinh thường xuyên xem như là hành giả đã làm đúng, nhưng phải không được phóng tâm, cần cảm nhận kịp thời mọi đối tượng đến tiếp xúc với các cửa.

              Khi đã thực tập tâm đi đôi với thân rồi thì hãy thử thực tập tâm đi đôi với các cửa xem sao. Tâm đi đôi với sáu căn, ấy là: tâm đi đôi với mắt, tâm đi đôi với tai, tâm đi đôi với mũi, tâm đi đôi với lưỡi, tâm đi đôi với thân và tâm đi đôi với ý. Ở đây cần chú ý tâm đi đôi với thân được nhận biết qua sự cảm nhận không giống tâm đi đôi với thân được nhận biết qua tiếp xúc.

              Quán xét theo từng đôi:

              1. Tâm đi đôi với mắt: khi có đối tượng đến tiếp xúc mắt, tâm thấy, vật bị thấy chỉ gồm hai loại là: màu sắc và hình dáng, không có tên gọi.

              2. Tâm đi đôi với tai: khi có đối tượng đến tiếp xúc tai, tâm nghe, vật bị nghe là tiếng nặng, nhẹ, vang, dội, xa, gần, sắc bén; thực tánh pháp của tiếng có mặt nhưng không có tên gọi là tiếng gì, ở đâu, tai chỉ có nhiệm vụ nghe tiếng mà thôi.

              3. Tâm đi đôi với mũi: khi có đối tượng đến tiếp xúc mũi, tâm nhận biết mùi, ví dụ mùi thối, mùi thơm, thì tâm biết thối, biết thơm mà thôi, không có gọi tên gì, ở đâu.

              4. Tâm đi đôi với lưỡi: khi có đối tượng đến tiếp xúc với lưỡi, tâm nhận biết vị ấy, ví dụ cảm nhận chua, cảm nhận ngọt, cảm nhận bùi, cảm nhận mặn, cảm nhận cay, cảm nhận đắng, cảm nhận lạt, cảm nhận chát, tâm cảm nhận các vị này lưỡi chỉ có nhiệm vụ tiếp xúc mà thôi.

              Về mặt thực tánh pháp: sự thật hiện hữu để cho tiếp xúc được ấy, thì tâm  tâm là cái cảm nhận tất cả thông qua thân môn làm nền tảng chung. Nhiều người có hoài nghi trong việc tiếp nhận đối tượng qua các căn môn và cho rằng tâm là vật tiếp nhận; ví dụ: danh thấy, danh nghe hoặc sắc thối hoặc sắc thơm. Thật ra thì các căn môn tiếp nhận đối tượng còn tâm làm nhiệm vụ biết đối tượng, tâm cảm nhận. Thử quán xét người chết rồi sẽ thấy rằng xác họ đang còn đó, các căn môn đầy đủ nhưng người chết không biết, không cảm nhận gì cả, bởi vì người chết không có tâm để nhận biết đối tượng. Điều này cho thấy tâm là cái nhận biết đối tượng, sắc không thể nhận biết đối tượng được (quả tim cũng chỉ là một sắc mà thôi).

              Nói đến chuyện danh và sắc, tại sao một số căn môn là sắc, còn căn môn khác lại là danh, chẳng hạn danh thấy, danh nghe, danh nghĩ, danh suy, danh phóng, danh khổ.

              danh thấy           là ngoại sắc hiện tại, sắc với sắc nhận biết                                                                                       

              danh nghe          đối tượng không được, cần dựa vào tâm                                                               

              danh nghĩ           là sắc qúa khứ, hiện tại, vị lai, tâm ta                                                                         

              danh suy            đem ra nghĩ, suy, phóng; khi không thể                                                                                 

              danh phóng        giải quyết vấn đề được thì tâm sẽ khổ,                             

              danh khổ            khổ tại thời điểm ấy  

              Xin đừng quên, cho dù là quá khứ, hiện tại, vị lai, không được quên rằng chúng sanh, con người, khái niệm, vật thể, những loại này là sắc bên ngoài (ngoại sắc), bởi vì tâm của chính mình đi tìm kiếm đến độ sinh ra nghĩ, suy, phóng, khổ.

              5. Tâm đi đôi với thân:  cảm nhận được bởi thân tiếp xúc, tức là cảm thấy lạnh, cảm thấy nóng, cảm thấy cứng, cảm thấy đau, cảm thấy nhức, cảm thấy ngứa, cảm thấy khổ tất cả đều khác nhau, hãy quán sát cho rõ.

              6. Tâm đi đôi với ý:  khi có đối tượng quá khứ, đối tượng vị lai nhập vào, tâm sẽ cảm nhận được là cảm nhận nghĩ, cảm nhận suy, cảm nhận phóng, cảm nhận khổ.

              Sự tiếp nhận đối tượng qua thân và qua ý không giống nhau, người hành nên quán sát và xem xét đúng với nhân quả.

 

                                                                                                                                               KHỔ

              Khổ là điều cần biết, biết khổ không phải là chịu đựng khổ hay phản đối, biết khổ để giải khổ.

              Khổ có vô số, nhưng cần thiết phải học, hiểu và biết đến tính chất của khổ, thế nào gọi là khổ và các khổ này phát sinh nương nhờ vào đâu, nên giải quyết ra sao?

              Gì gọi là khổ?

              Tính chất của sự đau nhức, mỏi, ngứa, tìm kiếm, đói, no quá, nặng bụng, ăn cơm, tắm, đại tiện, tiểu tiện, đi, đứng, nằm, ngồi, nhặt, nắm, làm, có vấn đề không giải quyết được, chuyện của ta, người của ta, vấn đề ngàn vạn, nói tóm lại là khổ cả. Bắt đầu thức giấc cho đến đi ngủ, cả ngày ở với khổ, ngày ngày sống với khổ, nhưng chẳng khi nào xem, không mấy khi biết đến khổ và giải quyết khổ, chỉ biết rằng không thích các trạng thái này. Tất cả những khổ đau này phát sinh từ nghiệp cũng có, từ quả cũng có, từ phiền não cũng có, nhưng nào có biết đâu đấy là khổ. Các nỗi khổ này sinh ra ở thân và ở tâm của chính ta.

              Trong việc tu tập thiền tuệ, hành giả cần biết khổ phát sinh ở thân và khổ phát sinh ở tâm gọi là  khổ thân   khổ tâm.

              Khổ thân được gọi là sắc khổ, khổ tâm được gọi là danh khổ, trong thiền tuệ chỉ có  sắc khổ   danh khổ. Hành giả quán sát xem các loại khổ phát sinh từ danh khổ hay sắc khổ ấy là phát sinh từ đâu, từ nghiệp, hay từ quả, hoặc là từ phiền não. Khi đã biết rồi nên như thật tác ý thế nào để tâm trở thành thiện. Do thế, bất luận là khổ ít hay khổ nhiều, hành giả không nên bỏ qua.

              Điểm quan trọng là phần nhiều hành giả bỏ quên, không quan tâm đến khổ mà phát sinh với sắc hoặc danh của chính mình do bởi sự quá quen thuộc; vì thế cho nên không biết được sự thật rằng mọi điều, mọi cái đều là khổ.

              Mọi người cần hiểu rằng đời sống thường nhật của chúng ta là ở với khổ, khi đã thấy khổ thật sự thì cần phải làm sao. Tứ niệm xứ ấy mà, là con đường cần lựa chọn. Đức Chánh Đẳng Chánh Giác đã thuyết về nhân và chỉ cho thấy nhân quá khứ, chí đến thuyết về quả và chỉ cho thấy quả hiện tại và vị lai.

              Nếu người hành không có khổ thì đến hành để làm gì, việc đến hành cũng do bởi muốn tiêu diệt phiền não. Sự chấp thủ, dính mắc là nhân của mọi sự khổ đau, các trạng thái khổ mà con người trên thế gian phải nhận chịu hiện tại đây đều có nhân từ sự chấp thủ dính mắc ấy. Hãy thử quán sát xem bản thân mình gặp các loại khổ ấy, nguyên nhân do từ đâu, sự thật thì nguyên nhân không thoát khỏi ra sự dính mắc, dính mắc không ra khỏi chúng sanh, con người, khái niệm chế định, sự vật. Trên thế gian này chẳng có gì vượt ra ngoài bốn điều này cả, bởi thế thiền tuệ có tầm quan trọng lớn nhất đối với mọi chúng sanh có phước, có cơ hội đến với giáo pháp. Giáo lý nhà Phật là đường lối có nhân có quả dành cho bản thân mình và cả người khác trong kiếp hiện tại cho đến vị lai, nhưng ai là người hiểu được và đến được với chân Pháp có giá trị như thế?

              Người đọc, cho dù là ai đi nữa, nến đã đọc qua những ngôn từ được viết ra thì xin nghĩ đến rằng lời dạy của Đức Thế Tôn đều có nhân quả và có thể kiểm chứng được. Để biết được lời dạy của Đức Thế Tôn đúng đắn thì hãy nhìn vào phiền não cấu uế của chính mình rằng đã giảm thiểu, đoạn trừ được gì rồi, đấy là sự thật, có thể kiểm chứng bằng chính bản thân mình. Nhưng điều quan trọng là tâm của mình được thanh tịnh hay không, mọi cái cần nương vào nhân, duyên kể từ quá khứ đã có trí tuệ và nhân hiện tại có đức tin rằng thiền tuệ là con đường dẫn đến thoát khổ được. Với lý do này sẽ làm cho hành giả có đức tin kiên cố, có tinh tấn và biết được lợi ích, công đức của thiền tuệ. Thiền tuệ là pháp vi tế, sâu sắc, mầu nhiệm, bao quát và sâu rộng, bởi thế không nên bỏ quá cho dù là một pháp nhỏ nhiệm. Mọi người nên đem ra sử dụng nhằm phát sinh lợi ích cho bản thân mình, cho kiếp sống tới. Chí ít cũng tích lũy hành trang Pháp trong kiếp này nhằm hướng đên kiếp tới. Mỗi người tự giúp đỡ chính mình, mong chờ ở người khác vì đây là điều không thể, mọi sự tùy thuộc vào phước hạnh mà bản thân đã tạo dựng rồi làm duyên cho gặp được giáo pháp nhằm đem ra thực hành để thoát khỏi luân hồi khổ não.

                                                                                                         CÁC GIAI ĐOẠN CỦA PHÁP HÀNH     

              Các giai đoạn trong pháp hành là sự thấu hiểu các khái niệm chế định của mỗi từ ngữ, mỗi công đoạn. Hiểu rõ diễn tiến của chúng như thế nào, cái gì sinh trước, cái gì sinh sau, có nhân có quả, liên đới lẫn nhau suốt quá trình thực hành, nếu nhân bị sai thì quả cũng bị sai theo. Bởi vậy, với những ngôn từ chế định này người hành cần học hỏi với sự hiểu biết; phán đoán hoặc suy diễn là không được. Ví dụ như: sự đặt tâm, thu thúc các căn, quán sát, sự cảm nhận, cảm nhận trạng thái khổ, sắc khổ, danh khổ, ta khổ, khổ sinh bởi nghiệp, khổ sinh bởi phiền não, khổ sinh bởi quả, như thật tác ý trong thiền tuệ, danh - sắc, việc đặt tâm ở mỗi căn môn khi nhận đối tượng, nghĩ, suy, phóng tâm. Những ngôn từ chế định này đều có nền tảng chân thật nghĩa đảm bảo, đảm bảo theo nhân quả, theo duyên hệ. Hành giả cần biết cái thật, rồi đem ra sử dụng để tu tập Tứ niệm xứ một khi đã có sự hiểu biết các thực tánh pháp của tất cả ngôn ngữ chế định này.

              Lúc tu tập thiền tuệ, các ngôn ngữ chế định này sẽ tự làm việc và tự xuất hiện, không phải tìm kiếm, không phải tìm xem; bởi vì lúc đang ở với pháp hành thì chỉ có sự quán sát và cảm nhận là thấy được còn các phần khác thì không thể thấy. Điều quan trọng là ở sự quán sát, chính sự quán sát làm việc và thấy được rõ ràng.

              Khái niệm chế định đang làm việc gọi là: “nhân, ấy là sự đặt tâm, sự đặt tâm ở mỗi căn môn, sự thu thúc lục căn, sự quán sát, như thật tác ý.

              Khái niệm chế định mà có quả hiện hữu gọi là: “quả, ấy là sự cảm nhận, cảm nhận trạng thái khổ, danh khổ, sắc khổ, danh - sắc, nghĩ, suy, phóng tâm, thân ta, tâm ta. Do vậy hành giả cần biết rằng cái nào đang làm việc, cái nào là quả hiện hữu. Tóm lại cả hai đều không thoát ra sự quán sát được đâu. Trong khi hành giả đang thực hành thì không thể tìm được cái đang làm việc, nếu đi tìm cái làm việc thì phải bỏ mất sự cảm nhận hiện tại ngay lập tức.

              Người tu tập thiền tuệ cần thận trọng nơi ngôn từ chế định này, sở dĩ yêu cầu thận trọng vì sợ rằng lúc hành sẽ đem ra sử dụng, vì quả đạt được sẽ làm cho chánh niệm có năng lực đến độ chuyển thành định, định này không phải là sát na định mà làm dẫn đến cận định hoặc an định; như thế là không được, cho nên không muốn đem ra dùng trong khi thực hành.

              Các ngôn từ chế định như theo dõi tâm, theo dõi sự cảm nhận, quán sát tâm làm việc, chờ đợi đối tượng, cẩn trọng đối tượng, quy định, chú mục, quán xét cần phải thấy rõ ràng hơn. Những từ này nghe hoài, đọc hoài hay đem ra dùng, ra nói thường xuyên cũng được nhưng cấm đem ra sử dụng trong lúc thực hành. Nhắc rồi, lặp đi lặp lại hoài bởi sợ sơ ý cho rằng dễ dàng đối với việc thực tập, nguy hiểm nhé, thử xem cũng được. Về phần quả thì sẽ đem ra nói với nhau sau cũng được.

              Các ngôn từ chế định đều có tác động đến việc tu tập thiền tuệ, có thể làm cho tu tập tăng tiến hoặc làm cho sai đường cũng nên. Do vậy, lời giáo huấn có sự vi tế, thâm sâu và không dễ gì đối với việc học và hiểu biết.

              Người có tâm thấy được sự thâm diệu của lời giáo huấn phải là người không hoan hỷ, vừa lòng đối với lợi lộc, danh tiếng, địa vị, sung sướng. Cho nên cần quay sang học hiểu lời giáo huấn một cách thực sự, sẵn sàng để kiểm nghiệm, phải công nhận rằng là điều khó ở thời đại bây giờ.

              Nếu học hiểu lời giáo huấn để đổi lấy lợi lộc, nhằm hướng đến địa vị, giành lấy sự khen ngợi và cuối cùng hướng đến sự sung sướng, sự học hiểu dạng này có nhiều, số lượng nhiều lắm lắm.

              Trong thời đại hiện nay ít thấy sự học hiểu giáo pháp, học hiểu giới luật, chỉ việc thọ trì ngũ giới gần như là không có, trẻ con thời nay mấy khi biết đến giá trị đạo đức, nhân phẩm.

              Một khi đã biết đến nhân quả rồi thì nên lựa chọn điều gì nên và điều gì không nên bởi trí tuệ và chánh kiến, cần hiểu biết cho hợp với nhân - quả của thiền tuệ bằng chính bản thân mình trước khi bắt tay vào pháp hành.

              Bạn hãy tìm lời giải của các câu hỏi dưới đây:

              1. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải có đối tượng danh - sắc.

              2. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải có đối tượng chân nghĩa pháp.                                                                           

              3. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải nhận đối tượng sáu loại.

              4. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải nhận đối tượng hiện tại.

              5. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải ngăn đối tượng quá khứ và vị lai.

              6. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải luyện tập thu thúc các căn.

              7. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải có như thật tác ý.  

              8. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải không nói, trò chuyện, chào hỏi.

              9. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải biết đặt tâm cho đúng.

              10. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải nhấn mạnh sử dụng sự cảm nhận.

              11. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải cấm sử dụng niệm đề mục, thuộc lòng, nói năng, nghĩ, suy.

              12. Vì lý do gì thiền tuệ cần thiết phải cấm quán xét, cẩn trọng, theo dõi, yên tịch.

              Nếu chưa gặp được câu trả lời thì chưa nên vào pháp hành, hãy trở lại đọc lần nữa để hiểu rõ hơn.

              Phương pháp thực hành cho người có tác ý vượt khỏi sanh tử luân hồi:

              Người vào thực hành thiền tuệ cần phải chuẩn bị những gì? Điều quan trọng trong việc chuẩn bị ấy không phải là chuẩn bị bản thân, chuẩn bị đồ vật sử dụng, chuẩn bị áo quần, những thứ này là tự đến không phải chuẩn bị gì nhiều. Điểm quan trọng nhất là chuẩn bị tâm. Việc chuẩn bị tâm này có nghĩa là đặt tâm ra khỏi những phận sự tế toái, lo âu rồi thì hướng tâm đến để chuẩn bị sẵn sàng tìm hiểu đối tượng của thiền tuệ. Tiếp đến cần biết thêm nữa thiền tuệ có đối tượng là gì, đối tượng của thiền tuệ là danh - sắc. Danh - sắc này sinh khởi từ đâu, sinh khởi từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mỗi người, gọi là sáu cửa (sáu căn môn) theo Vi Diệu Pháp. Rồi phải hiểu sâu hơn nữa rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này được đem làm thành danh - sắc như thế nào.

              mắt        thấy gọi theo ngôn ngữ nói là danh thấy

              tai          nghe gọi theo ngôn ngữ nói là danh nghe

              mũi        ngửi mùi gọi theo ngôn ngữ nói là sắc mùi

              lưỡi       nếm vị gọi theo ngôn ngữ nói là sắc vị

              thân       xúc chạm nóng lạnh gọi theo ngôn ngữ nói là sắc nóng, sắc lạnh.

              ý            nghĩ, suy, phóng tâm, gọi theo ngôn ngữ nói là danh nghĩ, danh suy, danh phóng và tâm cảm nhận trạng thái của đi, đứng, nằm, ngồi gọi theo ngôn ngữ nói là sắc oai nghi hay là sắc đi, sắc đứng, sắc nằm, sắc ngồi.

              Khi hành giả đã hiểu rõ các quy định theo các căn môn rồi, nghĩa là hiểu gì là sắc, gì là danh thì cần phải hiểu thêm rằng việc hành thiền tuệ này cần dựa vào sự cảm nhận mình, sử dụng sự suy nghĩ, thuộc lòng, niệm thầm, nói năng tuyệt đối không được. Phải dựa vào sự cảm nhận theo các căn môn của mình, ví dụ ở tai thì cảm nhận nghe, theo quy định gọi là danh nghe. Ở thân lúc gió đến tiếp xúc thì thấy mát lạnh gọi là sắc lạnh v.v…

              Khi đã hiểu đối tượng của thiền tuệ tốt rồi, thì cần đến để thử thực hành xem sao. Trước khi thực hành cần biết thêm rằng thiền tuệ sử dụng sự cảm nhận mình, không sử dụng sự nghĩ suy, thuộc lòng. Cần phân biệt cho rõ sự nghĩ suy và cảm nhận khác nhau như thế nào, giữa nghĩ suy và cảm nhận cái gì đến trước? Theo thực chất thì sự cảm nhận đến trước sự nghĩ suy là điều tất nhiên. Chẳng hạn như sự đói bụng đến độ đau bụng, tại thời điểm ấy sự đói đã phát sinh, có cần suy nghĩ hay không rằng ta đói bụng, chẳng cần nghĩ đâu bởi vì cái đói có thực tánh của sự cảm nhận xuất hiện rõ ràng tại thời điểm đó. Cho nên chẳng cần suy nghĩ đâu rằng ta đang đói bụng. Trên đây là ví dụ về sự nghĩ suy và sự cảm nhận. Nghĩ suy xuất phát từ tâm có đối tượng là quá khứ, còn cảm nhận ở trong trạng thái của thời điểm hiện tại. Một ví dụ khác là giấc mơ, nghĩ ra rằng hôm qua ta nằm mơ, giấc mơ này không thể có sự cảm nhận mình.

              Khi hành giả hiểu được sự cảm nhận mình, phân biệt nghĩ suy và cảm nhận khác nhau thì phải hiểu thêm nữa rằng việc thực hành sẽ thuận lợi hơn nếu thực tập thu thúc. Sự thu thúc có vai trò quan trọng nhất đối với hành giả, nếu hành giả không biết thu thúc thì pháp hành thiền tuệ sẽ không phát sinh được.

              Sự thu thúc là gì và thu thúc điều gì

               Sự thu thúc là sự cẩn trọng đối với sáu cửa, phải làm thế nào để đưa thu thúc vào trong đường lối của người thực hành thiền tuệ cho được. Thu thúc những gì? Thu thúc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trở thành sắc danh. Ví dụ: ở mắt, khi thấy thì cảm nhận thấy hình dạng và màu sắc mà thôi, không có tên gọi nơi

vật thể đó là vật gì, chẳng hạn thấy cây xoài sẽ thấy màu và dáng của cây mà thôi, sẽ không thấy màu gì, cây gì. Việc thu thúc trong cái thấy thành danh thấy nhằm để loại trừ phiền não trong sự thấy. Nếu thực tập lâu lâu vào sẽ có sự cảm nhận là danh thấy, phiền não, tham sân si sẽ không có vì đã loại bỏ cái ta thấy ra khỏi rồi. Nếu đang còn là ta thấy sẽ có sự thích, không thích dính vào tức khắc, ở các căn môn khác cũng như thế.

              Khi hành giả biết được sự thu thúc là thế nào, sự cảm nhận là thế nào rồi, thì tiếp đến điều cần biết là sự quán sát. Sự quán sát này cần thiết phải biết bởi vì nếu không biết sự quán sát thì khi sự cảm nhận mình bị rớt ra khỏi danh - sắc sẽ không tự biết được. Sự quán sát này chẳng khó gì cả, quán sát rằng sự cảm nhận mình đang còn ở đó hay không, sự cảm nhận mình đến nhận sắc hoặc danh theo các căn môn hay là rơi vào đối tượng của phiền não rồi. Khi biết rằng tâm bị rơi ra khỏi sự cảm nhận là sắc danh rồi thì cần tạo sự cảm nhận mình mới, hãy cố thử làm xem. Ví dụ đang cảm nhận mình ở sắc ngồi, rồi tâm bị ra khỏi sắc ngồi và tìm sự cảm nhận mình không thấy, hãy đổi từ ngồi sang đi hoặc lấy sắc lạnh thay cho sắc ngồi sẽ có sự cảm nhận mình ngay lập tức.

              Một khi hành giả hiểu được tầm quan trọng của sự thu thúc, sự quán sát, sự cảm nhận mình thì còn một điều quan trọng cuối cùng nữa không thể bỏ qua được bởi lẽ có lợi ích nhiều trong việc thực hành ở bậc cao hơn, đó là: như thật tác ý. Như thật tác ý (yonisomanasikāra) này là khái niệm được chế định dành cho những người học Vi Diệu Pháp sử dụng, đối với người thực hành sẽ biết đến như thật tác ý này dưới dạng của sự giải khổ. Sự giải khổ như thế nào thì cần theo dõi tiếp sẽ biết.

              Như thật tác ý này không phải thuộc lòng, không phải nghĩ suy mà là trạng thái khi biết khổ và thay đổi từ tư thế cũ sang tư thế mới. Ví dụ như tại thời điểm đang ở với sự cảm nhận sắc ngồi, ngồi được một chặp lâu sẽ nẩy sinh trạng thái nhức mỏi, khi cảm nhận rằng mỏi thì sẽ đổi từ thế ngồi sang thế đi, hoặc đổi từ thế ngồi ấy sang một thế ngồi khác. Ở chỗ thay đổi ấy gọi là như thật tác ý. Do vậy, như thậy tác ý này không cần phải nghĩ suy, chỉ là thay đổi sắc cũ thành sắc mới nhằm giải quyết khổ, khổ thân hoặc khổ tâm hay là cả khổ thân lẫn khổ tâm. Điều quan trọng là trước khi thay đổi phải biết khổ đang hiện hành. Khi hành giả đã hiểu như thật tác ý rồi và hiểu rằng người ta đem ra sử dụng như thế nào, tiếp đến xin giải thích sự làm việc của bốn điều quan trọng trên một lần nữa.

              Việc tu tập thiền tuệ theo như những gì đã biết xem ra dễ dàng, tuy nhiên khi đem ra thực hành có thể sẽ khó nếu không có sự hiểu biết trước, đọc xong gặp đồ thật mới dùng được.

              1. Tránh xa mọi trách nhiệm, nghĩa vụ, bất luận là gì.

              2. Đặt tâm ở mỗi một căn môn khi có sự tiếp xúc với đối tượng.

              3. Việc đặt tâm ở mỗi căn môn cần đi đôi với việc thu thúc ở mỗi một căn môn đó như nhau. Sự đặt tâm sẽ phát sinh trước, sau đó sự thu thúc mới tiếp theo sau.

              4. Khi đặt tâm ở mỗi căn môn rồi, sự thu thúc các căn sẽ phát sinh và tiếp đến là sự cảm nhận rồi từ đó quy trình sẽ tiếp tục diễn tiến theo trình tự.

              Những gì vừa viết nhằm để học tập sự vi diệu của giáo pháp trong lĩnh vực này. Không phải tự dưng rồi biết được danh sắc, biết được sinh diệt, xem ra dễ quá đi. E rằng, nếu dễ dàng thế này thì trí tuệ chẳng có việc gì để làm, lại nữa bậc Thánh nhân sẽ xuất hiện vô kể, ai mà biết được; làm điều tội lỗi mà chẳng biết mình đang tạo tội.

              Tìm hiểu lại lần nữa nếu chưa hiểu.

              Hành giả tập thu thúc các căn cho đến độ quen thuộc, tập thu thúc chỉ cần tinh tấn tập tiếp nhận đối tượng mỗi lần đến tiếp xúc với căn môn. Ví dụ ở mắt chỉ cần thấy là sắc hoặc hình dáng mà thôi, đừng cho chế biến, tạo tác thêm như thường làm, xong rồi có gắn tập đừng có gọi tên (đến khi không có tên khái niệm) đối với cái mà mình thấy đó.

              Trong lúc tập thu thúc hành giả chỉ quan tâm đối tượng đang phát sinh với căn môn của mình. Nếu là tiếng lớn, sắc bén, xa hoặc gần đi nữa thì phải tập nhận biết tiếng ấy với sự cảm nhận rằng có tiếng lớn mà thôi, hoặc đối tượng nào đang hiện hữu thì tập cắt bỏ tên gọi, tiếp nhận bằng sự cảm nhận mà thôi, cấm tạo tác với cái đến tiếp xúc các căn. Cần hành tập ở thời điểm mà tâm nhận đối tượng  đến tiếp xúc với một  căn môn nào đó, không  được  nắm bắt đối tượng ấy

một cách chặt chẽ và quá lâu; không bắt buộc phải như thế này, thế kia, mà hãy để cho tự nhiên giống như nhận rồi trôi qua, không giữ, không ngâm. Khi thấy chỉ là thấy mà thôi, nghe chỉ là nghe thôi, hôi thơm thì biết, cảm nhận hôi thơm mà thôi, không chế biến gì hơn tự nhiên, không định danh. Khi tâm nhận đối tượng bằng sự cảm nhận qua các căn môn, tâm sẽ không nhận đối tượng nào quá lâu, nhận rồi sẽ biến đổi đi nhận đối tượng khác, xoay vần suốt ngày trên các căn môn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thay đổi nhau nhận đối tượng cả ngày không ngừng nghỉ.

              Khi đối tượng nào đó tiếp xúc với căn môn thì tâm của hành giả sẽ quan tâm đến đối tượng đó, cần nhận đối tượng đó bằng sự cảm nhận và không được chế biến, tạo tác gì cả, không đặt tên, không điều khiển, không tham muốn nữa, nhận bằng sự cảm nhận lúc tiếp xúc mà thôi và giữ đúng tự nhiên.

              Chẳng hạn như, khi có thức ăn dọn ra, nỗi khổ phát sinh vì cái đói nên chi lấy ra ăn để chống đói. Tại thời điểm đưa thức ăn vào miệng, tâm cảm nhận mà không có sự định danh như từng ghi nhớ, mà chỉ nhận vị của thức ăn theo tự nhiên, ấy là: vị chua hay ngọt, bùi, mặn, cay, đắng,… hoặc xúc chạm: cứng, giòn, dẽo mà thôi. Tâm chẳng quan tâm đến tên của các loại vị ấy rằng: chua kiểu gì, ngọt ra sao. Như thế này mới đúng. Khi tâm hành động như thế, hành giả sử dụng sự quán sát theo từng căn môn của mình tại thời điểm nhận đối tượng ở mỗi lần, mỗi căn môn, xoay chuyển như thế không có ngày giờ, chỉ có tối và sáng mà thôi. Nhận đối tượng dựa trên sự cảm nhận, không có tên, không muốn biết, chẳng có thích hoặc không thích, chẳng có sự chế biến tạo tác gì cả. Tâm có nhiệm vụ cảm nhận, tâm có nhiệm vụ quán sát. Khi đối tượng tiếp xúc với căn môn, tâm có nhiệm vụ quán sát rằng sau khi cảm nhận rồi tâm bắt chặt đối tượng hay không, tâm bị rớt ra hay không, tâm nắm bắt đối tượng lâu mau, tâm nhận đối tượng rồi có chế biến gì không, tâm bị rớt ra rồi trở lại nhanh hay không, tâm thu thúc đúng hay chưa, có hay không khổ phát sinh ở mỗi căn môn, khổ sinh rồi biết kịp thời hay không, có phiền não gá vào ở mỗi căn môn hay không, phiền não đi vào vì sự sơ ý trong lúc nhận đối tượng hay không.

              Hành giả phải quán sát các nỗi khổ phát sinh tại các căn môn của mình, khổ ấy phát sinh vì phiền não, tức là sự thích hay không thích là nguyên nhân làm cho căn môn ấy khổ. Ví dụ người bị nhiệt, đấy là khổ phát sinh do phiền não, ấy là do sự thích ăn chuối chiên, xôi ngọt sầu riêng, hoặc không muốn uống nước, không thích uống thuốc. Nguyên nhân của khổ là phiền não: thích và không thích.

              Hành giả phải quán sát xem rằng khổ đang phát sinh với căn môn của mình đó là phát sinh từ phiền não, nghiệp hoặc phát sinh từ quả,… Một khi hành giả quán sát rằng khổ ấy của mình phát sinh từ phiền não gì thì nên giải quyết theo nhân duyên, không phải giải quyết vì tham muốn. Nên giả quyết bằng trí tuệ đúng với nhân quả, với sự thật. Mọi việc đều phải thuận với sự thật, đừng để đi với phiền não, mọi sự phải diễn tiến nhằm giải quyết khổ mà thôi, đừng chịu đựng khổ hoặc giải khổ bằng cách đem phiền não ra dùng.

              Hành giả càng nỗ lực thực tập trong việc nhận đối tượng với căn môn, ở mỗi căn môn cần tập nhận bằng sự cảm nhận, cần cắt bỏ tên gọi chỉ biết rằng cảm nhận là sắc hay là danh. Hành giả cũng nên học hiểu nhân quả của thiền tuệ nhiều lần, hãy hiểu cho được và ghi nhớ rằng cái gì gọi là sắc, cái gì gọi là danh. Khi đã ghi nhớ được rồi thì tại thời điểm tiếp xúc đối tượng, có cảm nhận rằng đây là sắc, đây là danh đúng theo thực tánh, không phải là khái niệm. Lại nữa việc tu tập thiền tuệ không có thời gian hạn định là mấy ngày, mấy tháng. Lúc nào có thì giờ hãy tập, cần tập thường xuyên đừng để rảnh rang. Công việc thường nhật ta luôn sử dụng các tiểu đại oai nghi, cần suy xét trước mỗi lần dùng đến, sử dụng vì đang gặp khổ, nên phải nhờ vào oai nghi để giải khổ. Đừng dùng oai nghi hoặc vật dụng các loại bằng sự quen thuộc, cần có như thật tác ý trước rằng vì khổ nên ta mới dùng, mới làm.

              Việc thực tập thiền tuệ nhằm để biết sự thật đúng với tự nhiên. Mỗi người sinh ra vì khổ, sống cũng khổ, chết cũng khổ, do năng lực phiền não nên khổ suốt đời. Bởi vậy, phải tìm đường diệt khổ bằng cách cắt nhân, đoạn duyên đã tạo ra khổ. Do thế người tu thiền tuệ phải biết nhân quả trước rằng bản thân có khổ hay không, có khổ thật không hoặc sợ khổ hay không, tương lai còn khổ hơn thế này nữa có sợ không, rồi thì đã sẵn sàng thoát khổ hay chưa.

              Thiền tuệ chỉ tu tập vào ngày thứ bảy và chủ nhật là điều không thể, cần hiểu rằng thiền tuệ theo chế định và thiền tuệ theo chân nghĩa khác nhau thế nào. Ngoài ra nên học hỏi thật đầy đủ trước khi tin vào, thiền tuệ có nhiều nhưng nhân và quả thì rõ ràng chắc chắn. Vào thời này, ở đâu cũng có thiền tuệ cả, nhưng tùy thuộc vào phước của mỗi người đã tạo mà sẽ gặp thiền tuệ chế định hay thiền tuệ chân nghĩa. Dù sao đi nữa, tu tập thế nào làm cho giảm thiểu, đoạn trừ phiền não thì mới gọi là thiền tuệ chánh tông. Việc tu tập thiền tuệ cần nhấn mạnh ở khổ và nhân sinh khổ, nhấn mạnh nơi phiền não và việc đoạn trừ phiền não. Trong việc đoạn trừ phiền não là gì, nhân làm việc phát sinh phiền não, phiền não sinh khởi do nhân gì, nhân ấy ở bên trong hay bên ngoài, nhân bên trong là gì, nhân bên ngoài là gì.

              Người tu tập thiền tuệ nhằm giảm thiểu và đoạn trừ phiền não cần phải biết rõ phiền não. Không biết không được! Nếu không biết thì sẽ giảm trừ và diệt tận phiền não như thế nào? Thật vậy, việc đoạn tận phiền não được thực hiện bằng trí tuệ trong thiền tuệ, nếu không biết nguồn gốc của phiền não thì đem trí tuệ ra đoạn trừ phiền não được chăng?

              Hãy đến cùng nhau suy xét xem có lý hay không có lý theo những quan kiến dưới đây mà một số người thực hành đã nêu ra:

              * Trong pháp hành sử dụng tứ oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi

              * Một số người chọn oai nghi mà mình thích, ví dụ: đi- ngồi, nằm- ngồi.

              * Một số người sử dụng cả bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi nhưng nhắm mắt bịt tai.

              *  Một số người oai nghi ngồi nhưng lại nhắm mắt, theo dõi sự cảm nhận khắp cả, từ đầu đến chân rồi chia đến tay, chân, tư thế.

              * Một số người chẳng quan tâm đến các đại oai nghi mà chỉ quan tâm theo dõi tiểu oai nghi.

              * Một số người chẳng quan tâm đến oai nghi, họ chỉ quán xét tâm, tâm đến đâu thì biết rằng tâm đến đấy, tâm có phiền não thì biết là tâm có phiền não theo thường lệ trong đời sống hằng ngày của mình.

              * Ta dùng thân: ngồi, nằm, đứng, đi, nhặt, cầm, làm.

              * Ta dùng căn môn: mắt, tai, mũi, lưỡi, ý để thấy, nghe, ngửi, nếm, nghĩ suy; vì thế ta có thân tâm, mắt, tai, mũi, lưỡi để nhận đối tượng suốt ngày.

              Mỗi lần nhận đối tượng ở tại mỗi một căn môn, phiền não sẽ gá vào phát sinh ở đấy, phiền não hiện hữu tại căn môn và tại các oai nghi của ta, do vậy lúc thực hành sẽ lựa chọn oai nghi hoặc lựa chọn căn môn được không? Hoặc lúc thực hành sẽ theo dõi tâm nhận đối tượng, theo dõi rồi thì được gì bởi vì phiền não đang nhảy vào tại căn môn đó, dựa vào đối tượng đó mà phát sinh. Nếu không gấp rút cắt đứt phiền não trước mà thả trôi thì cũng như gia tăng phiền não nhiều hơn lên. Do vậy hành giả nên làm thế nào để ngăn chặn và đoạn trừ phiền não, làm cho phiền não giảm thiểu theo nhân, theo duyên của trí tuệ mỗi khi hành giả biết rằng các loại phiền não gá vào các căn môn của mình. Hành giả cần đem các căn môn ra sử dụng trong việc tập thu thúc lục căn khi hành thiền tuệ. Ta ở tại các căn môn, phiền não cũng ở tại các căn môn, danh - sắc  cũng ở tại các căn môn, trí tuệ cũng thế ở tại các căn môn. Khi đã như thế thì nên lựa chọn oai nghi, lựa chọn căn môn tùy theo ý thích được không? Đây là lý do để xem xét sử dụng các căn môn của chính mình cho có lợi ích trong việc giảm thiểu và đoạn trừ phiền não.


BÀI MẪU THỰC HÀNH

TỪ THỨC GIẤC ĐẾN ĐI NGỦ CỦA NGƯỜI HÀNH

ĐÃ CÓ CĂN BẢN TRƯỚC RỒI.

              Lúc mở mắt thức giấc lần đầu, hãy có cảm nhận sắc nằm. Tại thời điểm ở với sắc nằm hiện tại này, có thể tiếp nhận danh nghe, sắc lạnh, sắc nóng, sắc mùi, đến chừng sắc nằm ấy trở thành khổ thì cần phải thay đổi để giải khổ, tức là đổi từ sắc nằm thành sắc ngồi. Cũng như vậy, ở trạng thái ngồi lâu thì khổ phát sinh đè nén, khiến ta phải giải khổ, ví dụ mắc tiểu cần phải chuyển từ sắc bị khổ đè nén này thành sắc đi để giải khổ. Lúc đang giải khổ ấy, tâm sẽ bị rớt ra khỏi sắc đó để nhận đối tượng khác, ta cần kịp thời biết đối tượng ấy là sắc hay danh và phải như thật tác ý nhằm giải khổ thật sự thông qua sự cảm nhận mình. Sau khi xong việc tiểu tiện rồi, các việc khác cần làm trong nhà vệ sinh phần nhiều là ở tại các tiểu oai nghi, nhưng phải sử dụng đến như thật tác ý suốt thời gian. Chẳng hạn như với tay lấy khăn lau mặt, điều này xem như là giải khổ vì mặt đang bị ướt do mới rửa. Khi tâm nhận đối tượng sắc lạnh hoặc danh nghe xong rồi thì trở về với đại oai nghi như sắc đứng, sắc đi, sắc ngồi,… Bất luận là đang ở đại oai nghi hay tiểu oai nghi cũng phải như thật tác ý nhằm giải khổ. Tuy nhiên, điều quan trọng là lúc biết đã giải khổ thân hay khổ tâm xong thì đừng để tâm đi theo tiểu oai nghi nữa. Ví dụ lúc chải răng, có khổ thì phải chải răng, như thật tác ý nẩy sinh vì cần thiết nên phải chải, đừng theo trạng thái chuyển động lên xuống của tay, mà chỉ ở với trạng thái sắc đứng hoặc sắc ngồi là đủ rồi, tùy thuộc vào sự cần thiết phải sử dụng oai nghi ấy. Khi tâm bị rớt ra khỏi hiện tại sắc đứng hoặc sắc ngồi ấy, thì có thể đến với sự chuyển động của tay rồi rời khỏi sự chuyển động ấy tới với sắc lạnh, sắc ngồi, sắc đứng, danh nghe, tùy theo hiện tại cái gì phát sinh đến thì ta quy định cái ấy.

              Lúc đã xong công việc trong nhà vệ sinh, quán sát sắc đi bằng sự cảm nhận, đến lúc khổ phát sinh với sắc đi thì sẽ thay đổi tùy theo sự cần thiết. Tại thời điểm ở với sắc đi và sự cảm nhận mình nơi sắc đi ấy, tâm không chỉ ở với sắc đi mà thôi, tâm sẽ bị rớt khỏi sắc đi, đến với sắc lạnh, sắc nóng, danh nghe, v.v… dù ở với oai nghi nào đi nữa cũng phải như thật tác ý nhằm giải khổ. Tuy nhiên, quan trọng là ở chỗ biết rằng giải khổ ở thân không nhất thiết đi tiếp, cho dù ở trong oai nghi nào cũng phải ở với hiện tại đối tượng của sắc ấy hoặc của danh nào cũng được, sau đó thì ở với hiện tại đối tượng trong bốn đại oai nghi, chẳng thể bỏ qua được đâu, ấy là đi, đứng, nằm, ngồi.

              Điều cần quan tâm nhất là như thật tác ý, biết nguyên nhân cần phải chuyển đổi nhằm giải khổ trong cả oai nghi lớn và oai nghi nhỏ. Ví dụ đang ở với sắc ngồi hiện tại có sự cảm nhận mình, có sự cần thiết phải lấy tấm vải nhận đồ cúng dường (hành giả là vị tỳ khưu) thì phải có như thật tác ý nhằm giải khổ khi cần với tay.

              Một khi ta đã biết sử dụng như thật tác ý đúng đắn rồi thì không kể là sẽ lấy, sẽ làm, sẽ nghĩ, sẽ suy, dẫu làm gì đi nữa, mọi cái cũng nhằm để giải khổ cả. Dù là khổ thân hay khổ tâm, bất kể đại oai nghi hay tiểu oai nghi thì như thật tác ý là rất cần thiết. Nếu ta hành pháp hành mà không có như thật tác ý hoặc để cho phát sinh sơ ý thường  xuyên thì chẳng có lợi ích gì cả. Bởi lẽ khi không có khổ thì bao giờ ta mới chán ngũ uẩn, bao giờ ta mới chán danh - sắc mà ta cần phải điều động nó ở mọi thời. Do nhân này nên cần thiết phải có như thật tác ý, nếu như thực hành mà không có như thật tác ý thì đối với thực tánh pháp ở bậc cao hơn ta sẽ không thể biết được một cách tỉ mỉ, bởi vì không có sự chán nản. Ta không thể bỏ danh sắc vì cái ta sẽ hiện hữu, vì sự chán nản không xuất hiện, không thể thấy được lỗi và họa của pháp hữu vi đang hiện có. Do đó, như thật tác ý có vai trò quan trọng cũng như các pháp khác: sự tinh tấn, sự cảm nhận mình, sự quán sát. Cả bốn pháp này sẽ khởi sinh được một khi hành giả có sự thu thúc các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý một cách thiện xảo. Khi bốn pháp này đầy đủ rồi thì trí tuệ cũng phát sinh tức khắc.

              Ngày ngày chỉ có khổ và phải giải khổ mỗi ngày, có thời gian rảnh thì phải có danh sắc đảm bảo suốt thời gian đó. Bắt đầu từ thức giấc, đến bữa điểm tâm, thức ăn được ăn, dọn dẹp, rửa chén bát đều là khổ cả, do vậy cần phải có như thật tác ý, bỏ qua không được đâu. Nếu như lỡ quên thì không nên lo lắng, phía trước đang còn nhiều lắm, chỉ xin có sự quán sát, sự cảm nhận mình luôn luôn, chỉ có danh với sắc mà thôi cho đến thời gian đi ngủ. Khi phải đi ngủ, cũng cần có sự cảm nhận nơi sắc nằm ấy đến lúc ngủ đi. Trong thời gian nằm ngủ, có khổ phát sinh ở sắc nằm đó, lúc cần thay đổi tư thế phải biết rằng đổi để giải khổ, cần có như thật tác ý luôn luôn. Hành giả không ngủ kiểu thất niệm, phải ngủ với sự cảm nhận mình, không phải ngủ với si mê.

              Việc ăn uống:  khi có sự cảm nhận khổ phát sinh ở bụng vì đói, sự nhận thức rằng đang có khổ cần phải giải khổ bằng cách ăn cơm gọi là như thật tác ý. Từ “như thật tác ý” này không phải thuộc lòng, ghi nhớ, không cần nói ra, hay nghĩ suy mà chỉ là sự cảm nhận vì biết rằng đang bị khổ thúc ép, thực sự cần thay đổi để giải khổ. Trạng thái đói là nhân, trạng thái hết đói do ăn là quả, biết rằng phải ăn uống để hết đói là như thật tác ý.

              Lúc ăn cơm, thức ăn được dọn ra trước mắt, dù bao nhiêu món đi nữa thì trước lúc ngồi cũng phải như thật tác ý để giải khổ vì không ngồi không được. Tại thời điểm ấy có sự cảm nhận mình ở sắc ngồi rồi danh thấy. Nếu như chú ý vào dĩa thức ăn lâu lâu thì cho thấy rằng đang tự tạo ra. Khi lấy thức ăn cho vào miệng sẽ có sự cảm nhận nơi sắc vị hay sắc lạnh, sắc nóng nào đó lập tức, rồi sự cảm nhận ấy có thể chuyển đến ở nơi sắc nhai (tiểu oai nghi), từ sắc nhai đến ở sắc ngồi hoặc danh thấy, danh nghe, sắc lạnh, sắc nóng thì luôn luôn phải có sự cảm nhận. Đôi khi có thể biết danh nghĩ, danh suy, danh phóng cũng được, điều này phụ thuộc vào hành giả có sự quán sát chi tiết, tỉ mỉ hay không. Nếu hành giả là người mới hành thì có thể đặt tâm ở các đại oai nghi như sắc ngồi, sắc nóng, sắc lạnh cũng được, cố gắn có sự quán sát thật nhiều, đừng bỏ qua sự cảm nhận mình, phải ở với danh sắc luôn luôn.

              Khi ăn uống, phiền não cấu uế sẽ gá vào mọi lúc, nếu không có danh sắc làm đối tượng thì việc ăn uống sẽ đưa đi địa ngục một cách dễ dàng. Lúc đang ngồi ăn cần phải thu thúc thật nhiều, nhưng không phải là tự tạo ra mà phải theo tự nhiên chỉ khác là có sự thu thúc nhiều hơn lúc không hành mà thôi. Thường thường ở nhà ta luôn ăn uống với phiền não, tham sân si, không phải ăn uống với trí tuệ gì đâu. Khi đã ăn xong phải giải khổ nữa, ấy là rửa chén bát, uống nước, rửa tay, súc miệng; những việc này cần phải làm như thật tác ý, nhưng không phải theo dõi các việc làm này, bởi vì trước khi làm cái gì, phần nhiều mọi việc đều ở trong các oai nghi lớn là: ngồi, đi, đứng.

              Lúc cần thiết phải giải khổ là tắm táp cũng phải có như thật tác ý. Ví dụ đang ở với sự cảm nhận sắc đứng, khi khổ phát sinh cần đi tắm để giải khổ ấy là như thật tác ý. Phải có sự cảm nhận khi sắc đi cho đến chỗ tắm rồi tắm. Tại thời điểm ấy có sự cảm nhận mình ở sắc đứng hoặc sắc lạnh mà thôi. Các tiểu oai nghi khởi sinh không cần phải theo dõi, mọi sự diễn tiến theo tự nhiên như trước lúc thực hành, nhưng phải có sự thu thúc đừng để cho tâm rớt ra khỏi sắc đứng, sắc lạnh, danh nghe, danh thấy, tức là phần nhiều ở trong các oai nghi lớn. Nếu tâm ở với các oai nghi nhỏ nhiều quá sẽ trở thành sự theo dõi các tiểu oai nghi rồi thì trở thành sự tự tạo. Tùy theo tự nhiên như thế nào, tâm quan tâm đến điều gì thì nắm bắt điều ấy là danh, là sắc không được theo dõi. Bất luận là gội đầu hay tắm táp, nếu tâm rớt khỏi danh sắc đang làm đối tượng đó thì phiền não sẽ nhảy vào lập tức. Phiền não nhảy vào ấy là: phải kì cọ thân cho sạch, xoa xà phòng nhiều lần, gội đầu lui tới nhiều lần. Nếu tâm ở với sự sạch sẽ hoặc lưu tâm nơi đầu tóc nhiều quá thì phiền não cũng vào nhiều theo, lúc ấy trí tuệ không có.

              Lúc đi đại tiện hoặc tiểu tiện cũng cần có như thật tác ý. Trước khi vào đến phòng vệ sinh, do khổ của sự đau bụng thúc ép là một sự thật, cần quán sắc đi với sự cảm nhận mình. Vào đến rồi ngồi thải ra, cái gì phát sinh cũng là tự nhiên, ở thời điểm đó có sắc ngồi, sắc mùi, danh thấy, danh nghe, hay gì đi nữa,… nhưng không cần thiết quán sát trạng thái dịch chuyển ra ngoài của phân hay nước tiểu vì chẳng có lợi ích gì do bởi không có danh - sắc đảm bảo.

              Giặt áo quần: nguyên nhân cần phải giặt:

              1. Không có áo quần mặc là khổ,

              2. Hôi hám là khổ,

              3. Ngứa là khổ,

              4. Ngâm lâu không được, thối mục là khổ.

              Tóm lại, phải giải khổ, phải giặt, vì sự cần thiết thúc ép phải làm, tất cả các khổ này đều sinh từ tâm.

              Phiền não liên quan đến việc giặt áo quần:

              1. Mất thì giờ, đi hành thiền hay hơn rồi từ từ về giặt.

              2. Gấp vội giặt cho xong rồi đi hành thiền một lần cho được lâu.

              3. Hành thiền không được, giặt đồ cho đỡ buồn chán.

              4. Muốn sạch sẽ.

              Trước khi giặt phải có như thật tác ý tức là phải làm, phải giặt vì bị khổ thúc ép, cả khổ thân lẫn khổ tâm. Khổ là: không giặt sẽ không có đồ mặt, hết nắng đồ không khô; khổ thân: áo quần lâu chưa thay sẽ gây ngứa ngáy. Lúc giặt đồ ta sẽ ở với sắc ngồi, sắc vận động, danh nghe, danh thấy, sắc lạnh, sắc mùi, hãy ở với danh - sắc hiện tại. Nếu muốn cho chỗ này trắng, chỗ kia sạch phải dùng bàn chải đánh, như thế này đều do phiền não điều động cả. Nếu như không cần thiết thì đừng theo dõi sự chuyển dịch nhỏ quá nhiều, làm cho bị mãi mê và đánh mất hiện tại, sẽ bị phóng tâm mà quên sự cảm nhận mình, theo dõi danh phóng tâm cũng không được vì danh vào cảm nhận mình thì sắc ngồi sẽ biến đi.

              Làm vệ sinh, quét nhà, chùi nhà bằng trí tuệ:

              1. Quét vì có cát, có bụi nhiều, đi lên thấy khổ.

              2. Có kiến, côn trùng nhiều, sợ dẫm chết.              

              3. Lá cây rụng dày lên, rắn rết đến ở, gây nguy hiểm.

              Các nhân này đủ để quét dọn vì bị khổ thúc ép thật sự, danh cũng khổ, sắc cũng khổ. Khi biết được khổ thúc ép cần phải quét, ấy là có như thật tác ý, sau đó lấy chổi quét dọn. Vào thời điểm này đối tượng là sắc đứng, sắc đi, danh nghe, danh thấy, sắc lạnh, sắc nóng đều được cả. Nếu tâm chú trọng đến việc sạch hay chưa xem như phiền não phát sinh rồi.

              Quét dọn với phiền não:

              1. Muốn quét vì nắm bắt sự cảm nhận mình không được.

              2. Chưa sạch sẽ lắm, cần quét ít nữa.

              3. Đã thành thói quen phải quét mỗi sáng chiều.

              4. Hơi bị tâm thần, thấy chổi là chịu không được, phải quét.

               Trước khi quét nếu thiếu như thật tác ý, thiếu sự thu thúc thì sẽ quét với phiền não. Bắt đầu quét, tham nhảy vào, tức là quét vì muốn sạch sẽ. Lúc đang quét tâm hướng đến sự muốn sạch sẽ (tham), tại sao chưa hết rác (sân). Khi quét xong rồi, ngồi xem, thấy vừa lòng nơi sự sạch sẽ (tham), mất thời gian nhiều mà vẫn chưa nắm bắt được sự cảm nhận mình (sân). Sở dĩ như thế vì ngay từ đầu đã thiếu sự thu thúc, thiếu như thật tác ý. Tóm lại là quét với phiền não suốt thời gian.

              Quét với trí tuệ:

               Trước khi quét biết là khổ phát sinh, quét để giải khổ. Bởi vì có sự thu thúc nên có như thật tác ý. Làm việc gì, biết đến nhân tạo khổ trong việc đó, ấy là trí tuệ.

              Thói quen thường xuyên khi vào hành thiền:

              Thích phơi chăn, phơi màn, gối, chiếu, giặt vải trải giường, giặt áo gối, quét phòng, chùi nền, múc nước vào lu vại, tưới cây, cho chó mèo ăn, ngồi ngắm phong cảnh.

              Nguyên nhân:

              1. Nắm bắt sự cảm nhận mình không được.

              2. Không biết cái gì là sắc, cái gì là danh.

              3. Thiếu sự thu thúc.

              4. Thường xuyên sơ ý.

              5. Không thiết lập được hiện tại.

              6. Không hiểu người dạy nói gì, không dám hỏi.

                                                                                                                           KẾT QUẢ CỦA PHÁP HÀNH

              Hành giả dựa trên nền tảng của giới, có nguyện vọng thoát khỏi sanh tử luân hồi, thật lòng với lời dạy và thành tâm với chính mình sẽ có được kết quả từ việc tu tập thiền tuệ một cách đúng đắn.

              Khi hành giả tu tập thu thúc lục căn đến độ thuần thục, bất luận là ở trong phòng hành thiền hay bên ngoài thì đều có sự thu thúc bản thân thường xuyên. Quả đạt được là trở thành người luôn cẩn trọng, biết thu thúc không để cho phạm giới. Việc đừng để cho phạm ngũ giới ấy là hành giả luôn có sự để ý đến các căn môn của mình, phải quán xét trước rằng sẽ làm gì, là tội hay là phước, có công đức hay không, lợi ích hay thiệt hại, nên hay không nên.

              * Nếu là cư sĩ thì nên quán xét như thế này trước rồi mới quyết định làm hay không làm.

              * Nếu là nhà sư, vị tỳ khưu thì quán xét hữu ích hay không là điều tiên quyết rồi mới làm hay không làm. Vì nguyên nhân gì mà vị tỳ khưu phải quán xét sự hữu ích trước? Bởi lẽ, bậc xuất gia sống với giới luật và trí tuệ, ngoài hai điều này ra rồi thì không nên làm, vì sẽ đụng đến tội lỗi. Cho nên cần thiết khi xem xét việc làm này là hữu ích cho giới luật hay không, hoặc là có hữu ích cho thiền tuệ hay không. Nếu phải thì làm, còn không phải thì tuyệt đối không làm.

              Khi đã quán xét như thế này rồi, cả vị tỳ khưu lẫn cư sĩ đều có giới trọn đủ. Giới là nhân dẫn ta tái sinh thành người, thành chư thiên. Giới là nhân dẫn ta đến giải thoát. Giới làm cho ta bố thí mà không trộn lẫn với tục lụy. Giới làm cho ta dũng cảm ở mọi nơi.

              Trên đây là những đức hạnh của các hành giả đã trải qua sự thực tập thu thúc lục căn rồi, trạng thái tâm sẽ thay đổi, thiện pháp sẽ xuất hiện nơi tâm. Chính đây là giá trị của thiền tuệ đã cho kết quả cơ bản bước đầu nhiều như thế, đấy là chưa kể đến sự đạt đến các Tuệ khác nữa.

                                                                                                                                       KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU

CỦA PHÁP HÀNH QUA TỪNG GIAI ĐOẠN

              Thiền tuệ nếu được tu tập đầy đủ, trọn vẹn thì sẽ có pháp vi tế tham gia vào tại thời điểm tu tập. Pháp ấy chính là  hiện tại. Hiện tại sẽ có mặt một khi tâm thanh tịnh, vi tế, thâm sâu. Và như thế mới đến được pháp tự nhiên mà gọi là  hiện tại được. Pháp hiện tại này có tất cả năm loại và cho quả đặc biệt một loại. Xin hãy học hỏi để biết và đem lại hữu ích trong tương lai, và khi có cơ hội đến thực hành thì sẽ hiểu được giáo pháp vi diệu, sâu sắc bằng chính tâm thức của mình. Pháp hiện tại được nêu ra ở đây chưa thấy một ai trình bày một cách đầy đủ cả, theo như được đọc qua thì chỉ có hai loại mà thôi. Hành giả nắm bắt được sự thật của pháp thì sẽ hiểu rõ năm loại pháp hiện tại này:

              1. Hiện tại pháp

              2. Hiện tại đối tượng

              3. Hiện tại sự cảm nhận

              4. Hiện tại sát na

              5. Hiện tại thực tánh pháp

              Năm loại hiện tại này là nhân làm phát sinh quả hiện tại, quả ấy là “hiện tại tuệ”.

              Người hành pháp hành thiền tuệ là người tu trì các pháp hiện tại này đến khi đắc tuệ, bắt đầu tính từ  nāmarūpaparicchedañāṇa (tuệ thấy danh - sắc diệt), là trí tuệ phá bỏ cái ta, là tuệ thứ nhất trong thiền tuệ. Có cả thảy 16 cái tuệ, nhưng chỉ cần một sát-na của sự cảm nhận là cũng biết được rằng lời giáo huấn vi tế, thâm diệu thế nào rồi.

              Người đọc phải đọc bằng trí tuệ và đừng sơ ý để phiền não nẩy sinh. Muốn biết, muốn đắc, muốn hành thì sự thanh tịnh sẽ biến mất, pháp hành sẽ bị phiền não trộn lẫn vào tại thời điểm đang hành.

              Lúc đang thực hành mà đi tìm mỗi loại hiện tại đang ở đâu rồi thì tạo dựng lên, nếu mà như thế thì ắt phải giao cho nghiệp, quả và e rằng sẽ đem ra dùng sai đi, bởi lẽ người ấy không thực tập pháp hành, chỉ giỏi nói. Cho nên thật đáng lo lắng cho những người chưa từng trải qua sự thực tập thì sẽ có cái nhìn sai lạc là chuyện thường. Xin hãy xem xét các pháp này một cách tỉ mỉ:

              1. Hiện tại pháp là gì, từ đâu đến

              2. Hiện tại đối tượng là gì, ở đâu

              3. Hiện tại sự cảm nhận phát sinh khi nào, phát sinh ở đâu

              4. Hiện tại sát-na như thế nào, phát sinh khi nào

              5. Hiện tại thực tánh pháp là gì, phát sinh khi nào

              Pháp được gọi là hiện tại này có giá trị rất cao, sinh khởi với bậc có trí tuệ, bởi vì là pháp vi tế, thâm diệu. Về mặt lý thuyết có thể tìm đọc được ở một số nơi, tuy nhiên không có ai viết một cách tỉ mỉ, chỉ rõ nguồn cội trong việc đem ra áp dụng vào pháp hành. Pháp tự nhiên là thứ không dễ kiếm đối với con người ở thời đại này, những thứ tạo tác thì nhiều vô kể nhưng thiếu giá trị. Hãy đặt tâm cho đúng, lúc đọc thì đọc dễ dàng nhưng khó mà hiểu thấu.

              1. Hiện tại pháp: có được từ pháp, tức là tự nhiên đang hiện hữu trên thế gian này, có ở trong lẫn ngoài thân ta. Ở bên ngoài là: chúng sanh, loài người, khái niệm chế định, đồ vật, …; còn ở bên trong là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

              Tóm lại pháp là tự nhiên, tự nhiên là pháp có mặt trên thế gian này, gồm bốn loại trên mà thôi, chẳng có gì ra ngoài bốn loại trên cả. Nhưng chẳng ai biết, chỉ biết cái mà được chế biến, tạo tác ra, rồi chấp thủ dính mắc vào, nên chi sẽ không gặp đồ thật.

              Khi đã biết hiện tại pháp rồi, hành giả cần phải hiểu rằng bốn pháp tự nhiên này cũng chỉ là danh - sắc mà thôi. Cái mà mọi người hiểu khác đi là do hiểu sai; bởi vì biết sai, thấy sai, hiểu sai nên đem ra hành cũng sai nốt. Mọi cái đều xếp vào sắc bên ngoài hoặc sắc bên trong, riêng chỉ có tâm thì xếp là danh. Tóm lại là chỉ có danh - sắc mà thôi.

              Hành giả lấy pháp tự nhiên này đem ra làm thành đối tượng trong lúc thực tập pháp hành. Lúc hành giả tu tập thiền tuệ thì cần lấy hiện tại pháp là danh hoặc sắc làm thành đối tượng cho pháp hành.

               2. Hiện tại đối tượng là gì?

              Hiện tại đối tượng là đối tượng sinh khởi trước mắt, lúc tâm đến tiếp nhận rồi phát sinh sự lưu tâm. Tại thời điểm ấy không có quá khứ, không có vị lai xen vào nơi sự cảm nhận, ở sát-na đó chỉ có một đối tượng mà thôi nên gọi là hiện tại đối tượng.

              Hiện tại đối tượng ở đâu? Hiện tại đối tượng ở tại sáu căn môn của chúng ta, tại thời điểm ấy tâm tiếp nhận đối tượng nẩy sinh trước mắt rồi có sự lưu tâm.

              3. Hiện tại sự cảm nhận phát sinh lúc nào?

              Hiện tại sự cảm nhận phát sinh lúc tâm tiếp xúc với thực tại, chỉ một sát-na mà thôi. Ví dụ như cái nóng, cái lạnh, sự cứng,… khi tâm chú mục đến thân môn và sự tiếp xúc bằng sự cảm nhận tại thời điểm ấy, tâm và căn môn phải đi đôi với nhau. Chẳng hạn tiếp xúc với sự cứng, lúc ấy sẽ cảm nhận ngay lập tức rằng trạng thái cứng như thế nào, chỉ cần cảm nhận ở chỗ tiếp xúc một tí mà thôi thì cũng gọi là sự cảm nhận. Sự cảm nhận dù chỉ một chút xíu cũng có lợi ích nhiều. Lợi ích như thế nào, lợi ích ấy là có thể ngăn chặn phiền não mới sắp phát sinh sẽ phát sinh không được. Phiền não cũ muốn biểu lộ cũng không biểu lộ được do năng lực của chính sự cảm nhận trong hiện tại này. Khi hiện tại sự cảm nhận sinh khởi thường xuyên, nối tiếp nhau không dứt ở trên các căn môn của ta thì phiền não các loại ngủ ngầm trong nội tâm sâu thẳm cũng không thể biểu lộ được. Lâu lâu dần, phiền não sẽ bị phá hủy đi. Hiện tại sự cảm nhận chỉ cần một sát-na của sự cảm nhận có định, cần một sát-na định mà thôi là có thể ngăn chận, giảm thiểu và đoạn trừ phiền não được, đoạn trừ đến tận cùng ấy là tiêu diệt phiền não. Do vậy, việc tu tập thiền tuệ quan trọng ở chỗ duy trì đối tượng hiện tại có sự cảm nhận là danh - sắc mà đang phát sinh liên tục không gián đoạn.

               4. Hiện tại sát-na như thế nào, phát sinh khi nào?

              Hiện tại sát-na là sự thay đổi đối tượng của tâm đang nhận đối tượng theo các căn môn, mỗi lần một đối tượng, một căn môn, một sự cảm nhận của giây phút hiện tại. Tâm nhạy bén nhận đối tượng bằng sự cảm nhận ấy do năng lực của sát-na định. Nếu đem ra so sánh sự nhạy bén của tâm trong việc chuyển đổi đối tượng đó thì sự nháy mắt còn chậm hơn nhiều. Tâm người ta chuyển biến trước đối tượng vô cùng nhanh chóng. Tại thời điểm tu tập thiền tuệ, hành giả phải có sự quán sát thật nhanh để kịp thời với tâm. Nếu có thể tập sao cho tâm vượt lên trên năng lực của phiền não thì mọi điều sẽ dễ thôi, vì việc nhận đối tượng của tâm nói chung là trôi theo phiền não, để cho phiền não xen vào, xen ra một cách dễ dàng. Cho nên, thiền tuệ cần có sự chuẩn bị sẵn sàng trước; sự sẵn sàng ở đây có nghĩa là cần đối thoại để hiểu rõ trước rằng việc tu tập thiền tuệ đặt căn bản trên nền tảng nào mà ta cần học hỏi.

              Tóm lại, hiện tại sát-na nghĩa là tâm nhận đối tượng trong hiện tại ở sát-na đó. Tại thời điểm nhận đối tượng ấy sẽ có các nhân và duyên là: một căn môn, một đối tượng, một sự cảm nhận. Khi hành giả đã biết hiện tại sát-na rồi, hành giả sẽ dùng hiện tại sát-na như thế nào? Sẽ dùng hiện tại sát-na lúc mà nhận đối tượng đến tiếp xúc với căn môn kịp thời với đối tượng hiện tại ấy, và tâm sẽ kịp có sự cảm nhận, tại thời điểm ấy hiện tại sát-na sẽ phát sinh với hành giả. Hành giả không cần theo dõi, không cần theo quán sát, tự nó sẽ làm việc, chỉ cần hành giả có sự thu thúc tốt, có sự cảm nhận đúng đắn, thanh tịnh, có sự quán sát nhanh nhẹn, định và niệm không quá mức. Chỉ cần ngần này hành giả sẽ gặp được sự thật gọi là chân nghĩa pháp.

              5. Hiện tại thực tánh pháp là gì, phát sinh khi nào?

              Hiện tại thực tánh pháp là sự thật mà hiển lộ ở hiện tại sát-na ấy. Sự thật ở đây là muốn nói đến sắc với danh mà thôi, có thực tánh pháp đảm bảo và ngăn chặn, diệt trừ phiền não nên gọi là hiện tại thực tánh pháp.

              Từ: “thực tánh pháp” (sabhāva) nghĩa là sự thật, đồ thật, có thể kiểm chứng được và chịu đựng trước mọi sự kiểm chứng.

              Từ: “hiện tại” nghĩa là tâm nhận đối tượng trước mắt tại sát-na ấy. Tâm, căn môn, đối tượng cùng làm việc ở thời điểm thực hành. Tâm có công tác của thiền tuệ mà cần phải làm suốt thời gian, tâm sẽ không thả cho phiền não chạy vào chạy ra với bất thiện pháp.

 

CÁC TIÊU CHUẨN VÀ PHẨM HẠNH

MÀ HÀNH GIẢ CẦN CÓ

              1. Đối với chúng sanh, con người, khái niệm, đồ vật phải tạo được lợi ích, làm phát sinh giá trị trong việc hành thiền.

              2. Giảm nhẹ hoặc đoạn trừ sự chấp thủ ở chúng sanh, con người, khái niệm, đồ vật.

              3. Biết rõ tội phước, hữu ích và vô ích, nên và không nên.

              4. An tâm trước mọi vấn đề nẩy sinh theo nhân quả.

              5. Thấy lỗi của việc tụ tập đình đám đông người, sự lười biếng, cái ăn, cái ngủ và sự thích chí nơi đối tượng.

              6. Thấy giá trị của việc thu thúc lục căn là có hữu ích hơn tất cả những pháp căn bản quan trọng làm phát sinh trí tuệ thiền tuệ.

              7. Lưu tâm đến khổ và biết cách giải khổ cho phù hợp với khổ ấy, không chịu đựng khổ.

              8. Biết rõ phiền não, phương cách ngăn chặn phiền não và cắt đứt phiền não trong từng sát na.

              9. Không phủ định đối tượng mà có thể tiếp nhận đối tượng trong mọi tình huống.

              10. Biết rằng tâm thanh tịnh do tác ý làm chủ, đứng đầu trong việc hành thiền tuệ, không phải do trú xứ hay các yếu tố khác.

              11. Cần quán sát nhiều, quán sát thô, quán sát trung trung, quán sát vi tế.

              12. Thấy được giá trị của sự đều đặn thường xuyên nơi pháp nhẫn nại và pháp tinh tấn.

              13. Biết rõ và biết tận phiền não của mình, phiền não của người.

              14. Trí tuệ thiền tuệ là trí tuệ vượt trên, trội hơn trí tuệ nào khác bởi vì cắt đứt nghiệp và quả.

              15. Trong pháp hành nếu thực tập đúng dù chỉ một tí cũng sinh quả, nếu thực tập sai thì dù nhiều bao nhiêu cũng không có kết quả.

              16. Đừng lo sợ và bận tâm trước mọi tai họa nào từ bên ngoài, nhưng chỉ sợ phiền não nội tâm phát ra mà không biết.

              17. Biết rõ sự khác nhau của: hiện tại, quá khứ, vị lai và sẽ bảo trì hiện tại vì biết rằng hiện tại có lợi ích thiền tuệ.

              18. Thấy được sự vi tế và phức tạp của nhân quả nhiều hơn tùy theo khoảng thời gian thực tập.

              19. Thấy sự vận hành của pháp tự nhiên bên ngoài và pháp tự nhiên bên trong làm phát sinh phiền não và trí tuệ. Nếu hành giả có pháp trong người rồi thì sẽ biết được phiền não và trí tuệ đi đôi với nhau.

              20. Giá trị nhận được từ thiền tuệ là sự lợi ích cho cả bản thân và người khác.

              21. Biết khổ, lỗi, tai họa của luân hồi, đình chỉ sự tầm cầu lợi danh, khen chê, địa vị, sung sướng, nhưng phải thu thúc trong đời sống.

              22. Biết tìm kiếm sự thuận lợi trong pháp hành nhằm giải khổ, cái gì cũng được miễn là có ích lợi cho việc thực hành. Thế nào cũng được, không dính mắc vào trú xứ, thiền sư, lời dạy của ngài, chỉ biết rằng chẳng có gì trội hơn pháp hành cả.

              23. Có đức tin và trí tuệ nơi lời dạy của Đức Phật, không dao động bởi vì có thể kiểm chứng được bằng chính bản thân mình. Cuộc sống này có thể xả bỏ để cúng dường pháp hành.

              24. Sự giống nhau lúc ở trong thiền đường cũng như ngoài thiền đường của hành giả là có đức tin, có sự thu thúc lục căn, có trí tuệ, không hoan hỷ trước những đối tượng phiền não thô thiển như: lợi lộc, danh vọng, địa vị, sung sướng.

              25. Có thể kiểm nghiệm được những phiền não nào đã bị lay động hay chưa từ việc học hiểu phiền não của bản thân mình thông qua các căn môn và có được trí tuệ ở mọi góc độ.

              26. Biết tính chất của danh - sắc là vô thường, khổ, điều khiển không được, hướng tâm đến pháp hành tận cuối đời. Khi hết khả năng trong việc thực tập sẽ có lòng từ đối với mình và người khác nên đem tâm tạo dựng ba la mật để có cơ hội tu tập pháp hành tiếp nữa.

              Kết quả thu được từ việc tu tập thiền tuệ ở cấp độ bước đầu:

              1. Có quan kiến đúng đắn theo nhân quả.

              2. Nhiều loại phiền não đã bị ngăn chận, giảm thiểu, cắt đứt rõ ràng.

              3. Khi phiền não phát sinh sẽ thấy kịp thời, thấy rõ nhanh hơn.

              4. Có tâm từ, tâm bi đặc biệt nhiều.

              5. Hiểu rõ nhân quả dễ dàng, quyết định điều gì đều sử dụng nhân quả để quyết định, không quyết định bằng sự phán đoán.

              6. Có chánh niệm nhiều hơn, không sơ suất.

              7. Tin vào nghiệp và quả của nghiệp, chấp nhận quả và có sự tinh tấn tạo thiện nghiệp nhiều hơn.

              8. Trở thành người có suy nghĩ và hành động vi tế hơn.

              9. Thấy khổ khi phiền não phát sinh.

              10. Trở thành người dễ tính, sao cũng được, chừng này cũng đủ vì không dính mắc, có đời sống thường nhật không chấp thủ, đúng lý nhân quả.

 

LÝ DO VÀ KẾT QUẢ CHUNG CẦN ĐẠT

KHI ĐÃ THỰC HÀNH THIỀN TUỆ

              Hành giả có định hướng đoạn trừ phiền não thì nên học hỏi và nên kiểm chứng cho được rằng chân nghĩa pháp đúng đắn và hữu ích đối với việc đoạn trừ phiền não ấy là thế nào? Phải đạt được bằng tâm thanh tịnh của chính mình ra sao? Cái gọi là sự thanh tịnh của thực tánh pháp đã đạt được từ tâm thanh tịnh ấy là thế nào? Giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh và người có tâm trộn với sự bất tịnh thì thực tánh pháp ấy như thế nào? Quả hiện hữu đó ra sao? Khác nhau ở điểm nào? Hành giả cần biết, không phải chỉ là thực hành suông suông suốt mấy năm mà tâm vẫn ở trạng thái cũ, phiền não không được giảm thiểu. Hành giả cần phải đặt nghi vấn và xem xét lại bản thân, nếu không thế thì tốn thời gian nhiều năm mà cuối cùng thì lại đổ lỗi cho rằng tu tập thiền tuệ chẳng được gì cả.

              Có một cư sĩ nói lời chê bai một vị sư từng hành thiền tuệ đến bảy, tám năm mà không có kết quả gì, rằng vị ấy đang còn phiền não, tính tình vẫn như cũ, giống như thời cùng tu với nhau.

              Đây là ví dụ cho thấy rằng người hành không chịu xem xét lý do về việc mình hành đúng hay sai thế nào, tại sao quả của pháp hành lại là còn phiền não như trước, đôi khi nhiều là khác nữa. Tu tập thiền tuệ mà còn hướng đến lợi lộc, địa vị, danh tiếng, sung sướng, có lợi ích cho đời sống thường nhật của mình thì không đáng như thế đâu. Hành giả nên cẩn trọng ở điểm này và cần lưu ý bản thân rằng mình có những điểm nào thay đổi tốt lên hơn không, đúng với lời giáo huấn của Đức Phật không? Điều quan trọng đối với người tu tập thiền tuệ là một khi thiền tuệ đã được tu tập rồi thì quả của nó là giảm thiểu, đoạn trừ được phiền não, phiền não sẽ ít hơn. Điều này cho thấy rằng người ấy đã thực hành đúng đắn cho nên có kết quả như thế. Người tu tập thiền tuệ nên biết tầm quan trọng của những ngôn từ được viết ra cho đọc này, những lời này quý vị có thể kiểm chứng được thông qua pháp hành nhằm đoạn trừ phiền não. Người hành đã trải qua pháp hành dù ít ngày hay nhiều tháng, từng quan tâm đến các từ: “sự cảm nhận” và “cảm nhận” hay chưa? Hai từ này khác nhau thế nào, có quả như thế nào, có cơ hội đem ra suy xét với nhau cũng tốt vậy.

              Quả của việc tu tập thiền tuệ đạt được từ: “cảm nhận” và tại thời điểm thực hành ấy, để đạt đến “cảm nhận” này thì phải dựa vào tâm mà không có phiền não. “Cảm nhận” là một danh chế định nhưng có chân nghĩa pháp đảm bảo, tại sát-na hiện tại đó chỉ có sự thanh tịnh phát sinh mà sự thanh tịnh ấy là một sự thật và có thể kiểm chứng được vì ở sát-na hiện tại đó không có nghĩ, suy, phóng tâm, niệm thầm, nói, theo dõi, tạo ra, tìm kiếm, quy định, suy đạt, chú mục. Các trạng thái này không hiện hữu ở đấy, bởi vì trong một cảm nhận, lúc ấy có hiện tại pháp, hiện tại đối tượng, hiện tại cảm nhận, hiện tại sát na, hiện tại thực tánh, hiện tại chân nghĩa danh - sắc ( trong tương lai có thể sẽ có tuệ phát sinh).

              Có câu hỏi thường xuyên rằng tu tập thiền tuệ để làm gì?

              Trả lời: để giảm thiểu, đoạn trừ phiền não, thoát khổ.

              Hỏi tiếp rằng thiền tuệ đoạn trừ phiền não ở đâu?

              Câu trả lời nhận được là một người một nẽo, chẳng có ai nói đến điểm quan trọng của trí tuệ tiêu diệt phiền não cả. Bởi vì không ai biết điểm quan trọng này, cho nên bỏ qua và chẳng lưu tâm đến, không thấy sự quan trọng. Cho nên, cần viết ra để mời quý vị vào kiểm chứng sự thật bằng chính bản thân mình. Khi đã đọc sách này rồi thì nên quan tâm đến mọi ngôn từ khái niệm, đừng đọc qua loa, dù ở phần trước đã nói đến cách đọc thế nào rồi. Điều quan trọng là tìm cho được nhân chế định của thiền tuệ, học hỏi cho thật hiểu rồi cùng nhau tự kiểm chứng, nếu muốn đoạn trừ phiền não. Tuy nhiên, giả sử dù chẳng muốn đoạn trừ phiền não đi nữa thì khi hiểu biết rồi cũng không bị lừa đảo được. Hãy biết nghĩ, biết suy xét, biết quán sát lời dạy vi tế, thâm sâu như thế nào. Không phải là ngồi yên một chỗ, nhắm mắt cũng thấy hết cả, nghĩ tưởng điều gì cũng có nhân quả theo pháp được đâu. Nên học hiểu và quan trọng là đừng nghĩ rằng đọc để biết, để đem ra nói mà thôi, cần phải đem ra kiểm chứng nữa. Khi nói đến “ cảm nhận” có nhiều lợi ích , xin hãy trở lại ở hiện tại đối tượng, là đối tượng sinh khởi trước mắt tại thời điểm ấy, bất luận là thực tánh pháp của sự nóng, sự lạnh, đau, nhức, đi, đứng, nằm, ngồi, khổ, nghe, thấy, mùi, vị,… tất cả những loại này đều có thực tánh pháp, không có loại khác đến trộn lẫn đâu. Cho dù là nghĩ đến quá khứ, suy về tương lai, phóng tâm cả quá khứ, hiện tại, tương lai cũng đều hiển lộ qua thực tánh pháp, bởi vì mọi thứ đều nẩy sinh với sự cảm nhận là hiện tại đối tượng ở sát-na đó. Tại thời điểm ấy có chánh niệm + tỉnh giác xuất hiện cùng với danh - sắc, phiền não không xen vào được, tâm trở nên thanh tịnh. Tâm thanh tịnh trong sát-na ấy, sự chấp thủ là ta, của ta không có ở thời điểm đó, chỉ có thực tánh danh, thực tánh sắc nổi lên thay thế. Phiền não không vào tá túc, phiền não nương nhờ không được ở thời điểm đó bởi vì tâm đang nhận đối tượng chân nghĩa pháp (cảm nhận - danh - sắc). Ngay cả khái niệm: “danh - sắc” cũng không có, chỉ có thực tánh chân nghĩa pháp mà thôi.

              Ở đây, có sự gần gủi giữa các ngôn từ, người hành nên có sự vi tế một chút. Ở từ: “xem sự cảm nhận” thì pháp dẫn lối đưa đường là chánh niệm. Hành giả nên cẩn trọng hơn vì chánh niệm có thể làm nhân cho nhiều pháp khác. Chánh niệm có thể làm nhân cho định phát sinh do sự chú mục theo dõi.

              Đặc điểm của việc xem sự cảm nhận là người hành dụng tâm hướng đến sự cảm nhận, và quán sát sự cảm nhận ấy sẽ biến đổi hay chuyển đi đến đâu, có trạng thái thế nào. Do vậy, hành giả có chánh niệm bao quát suốt thời gian ấy. Lúc đó, phiền não có thể gá vào được bởi vì chánh niệm ấy không phải là chánh niệm đặt trên nền tảng quán sát danh - sắc qua các căn môn. Nên chi, chánh niệm này có thể làm nhân phát sinh phiền não, ví dụ như si mê rồi tiếp theo là tham. Nguyên nhân là do sự muốn biết nên bám theo sự di chuyển của thân, trạng thái di chuyển của thân ấy có sự cảm nhận rồi, nhưng tâm lại nắm bắt vào xem sự cảm nhận ấy. Như đã nói có si mê bởi vì tâm ở thời điểm ấy không có danh - sắc đảm bảo và chánh niệm đó cũng không ở trên nền tảng của tứ niệm xứ, bởi vì tâm chỉ nắm bắt sự cảm nhận và theo dõi sự cảm nhận ấy. Tâm tại thời điểm ấy chẳng có tội phước gì, chỉ có sự muốn xem hoặc khi xem rồi thì sinh hoài nghi nữa. Ngoài ra tâm còn có tà kiến ở thời điểm đó, vì lúc ấy tâm không có danh - sắc làm nền tảng.

              Nói tóm lại, người thực hành hướng đến giải thoát cần phải biết quán xét pháp của bản thân mình rằng mỗi ngày pháp ấy tiến triển tốt đẹp hơn hay chẳng có gì tiến triển cả, rằng hôm nay cũng như hôm qua không phát triển trí tuệ mà thêm phiền não thôi.

              Trí tuệ là kết quả bậc cao, phụ thuộc vào công hạnh đã tích lũy, nếu vượt qua được những bước cơ bản thì những bước tiếp theo không cần nói đến.

              Hiện tại tuệ có tầm quan trọng thế nào, được phát sinh ra sao?

              Hiện tại tuệ rất quan trọng, bởi vì mỗi một tuệ đều có vai trò trong việc đoạn trừ phiền não ra khỏi nội tâm ở mỗi giai đoạn.

              Tuệ (ñāṇa) chính là trí tuệ diệt trừ phiền não một cách trực tiếp. Tuệ trong thiền tuệ có tất cả mười sáu cái tuệ. Tuệ thứ mười sáu có tên là  tuệ quán xét (paccavekkhaṇañāṇa), là tên của trí tuệ quán xét Đạo, Quả, Niết Bàn, các phiền não đã đoạn tận và quán xét phiền não còn sót lại. Mỗi một cái tuệ đều có tên gọi riêng của nó và có giá trị nhất định trong việc đoạn trừ tiêu diệt phiền não theo từng giai đoạn kể từ bậc Thánh nhân bậc thấp đến bậc cao. Hiện tại trong kiếp sống này, chúng ta có cơ hội để hiểu biết và thực hành theo lời dạy của Đức Phật, không phải đem lời giáo huấn ra dùng trong những công việc phụ nhỏ nhặt mà phải đem ra áp dụng thường xuyên một cách thật lòng cho bản thân mình trong hiện tại và trong nhưng kiếp sống tiếp theo. Ít nhất là, xin cho tất cả chúng ta đạt đến tuệ thứ nhất trước đã, đấy xem như là vô cùng hữu phước rồi, cũng đừng nên mong đạt gì khác nữa, xin hãy tạo nhân trước đi.

              Tuệ thứ nhất  có tên là nāmarūpaparicchedañāṇa ( tuệ phân biệt danh sắc) là tuệ bước đầu thấy sắc và danh, tà kiến cho rằng có cái ta, của ta sẽ không hiện hữu trong sự cảm nhận này.

              Tuệ là sự cảm nhận phát xuất từ trí tuệ thấy được sự thật khi tâm của hành giả đã đến tới sự thật, trạng thái tâm sẽ thay đổi.

              Tuệ phát sinh như thế nào? Chúng ta đạt được trí tuệ bậc cao này tất phải đạt được thông qua thiền tuệ, bằng cách quy định danh - sắc theo từng giai đoạn, qua các căn môn dựa trên nền tảng của sự đặt tâm, thu thúc các căn, theo đường lối của Tứ niệm xứ. Kiến thức thu được từ sự đọc, kiến thức thu được từ việc viết, từ sự hiểu biết, từ sự đối thoại pháp, các kiến thức này khác nhau nhiều. Do vậy, nếu được thì nên đối thoại pháp một cách thật tình rồi sau đó kiểm chứng lấy đến độ hiểu rõ, làm được, rồi thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn lên.

              Việc viết ra những điều này hẳn không mấy chi tiết, tỉ mỉ bởi vì một vài thực tánh pháp không nên viết ra. Ví dụ đưa ra sự tạo nhân để hiểu biết nhưng cần thiết phải nói đến quả, việc đem quả ra để nói thì chẳng đúng chút nào vì sẽ làm cho người thực hành không chịu kiểm chứng, chỉ biết đến quả. Giống như nhà giáo lãnh lương tháng do sự giảng dạy, không phải lãnh lương do kết quả thu được từ việc giảng dạy, chẳng giống nhau chút nào. Nếu chịu quán xét sẽ thấy rõ ràng hơn, do vậy sẽ cầm, nắm, làm, nghĩ, suy cần phải biết quán xét, tìm hiểu rõ nguyên nhân và kết quả sẽ đạt được. Hiện tại đang tạo và kết quả tương lai tương xứng với nhau hay không giữa địa ngục - thiên đàng - cõi người - niết bàn. Chúng ta vô cùng đầy đủ phước duyên khi được sinh ra làm người, được gặp Phật pháp, biết đến lời giáo huấn và được học hỏi lời giáo huấn ấy. Lời dạy của Đức Chánh Đẳng Chánh Giác dạy cho ta trở thành người có trí tuệ, biết nhân quả, làm điều gì không bị thất niệm, không sơ ý, nên suy xét trước khi bắt tay làm. Thật vậy, trước khi làm điều gì, quyết định cái gì, nhân quả đã có nên đem ra sử dụng, quán xét đến tội phước, công đức, sự hữu ích và vô ích, nên hay không nên, phải biết, biết gì? biết nhân, biết quả, biết pháp, biết thời, biết ước lượng, biết người nghe, người làm, người suy nghĩ.

              Đức Phật đã thấy rõ rằng chúng sanh trên thế gian có nghiệp là nguồn cội, là căn nguyên, là hạt giống, nghiệp này cho quả nên chi mọi chúng sanh đều phải chịu khổ, khổ thân, khổ tâm. Ngài có tâm đại từ, tâm đại bi vô lượng cứu độ chúng sanh ra khỏi khổ não. Ngài đã tuyên thuyết giáo pháp cho chúng sanh đi theo dấu chân của Ngài, và đã có vô số chúng sanh thoát khỏi luân hồi tử sinh. Tuy nhiên cũng đáng buồn lắm thay vì không ít chúng sanh đã hiểu sai lời dạy của Ngài, đem ra thực hành không trùng hợp với mục tiêu, cho nên phải chịu nhận khổ não nhiều hơn lên. Sự biết sai, thấy sai, nghĩ sai, nói sai và cuối cùng dẫn đến làm sai, làm vì biết thì còn có cơ hội sửa chữa khi đã hết nghiệp, nhưng làm mà không biết rồi làm hoài mãi cũng giống như cắt đứt mọi điều do năng lực của si mê phiền não, và cuối cùng của cuộc đời là bốn cảnh khổ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la).

              Dù sao cũng đã nói đến các Tuệ, cho nên xin được phép nêu tên các tuệ ra cho người đọc biết luôn nhằm động viên cho hành giả đạt đến các tuệ này.

               Mười sáu tuệ giúp cho thoát khổ:

              16. Pacchavekkhaṇañāṇa - Tuệ quán xét

              15. Phalañāṇa - Tuệ Quả

              14. Maggañāṇa - Tuệ Đạo

           13. Gotrabhūñāṇa - Tuệ chuyển tánh

           12. Anulomañāṇa - Tuệ thuận thứ

              11. Saṅkhārupekkhāñāṇa - Tuệ hành xả

           10. Paṭisaṅkhāñāṇa - Tuệ tư duy

              9. Muñcitukamyatāñāṇa - Tuệ muốn thoát khổ

              8. Nibbidāñāṇa - Tuệ nhàm chán

              7. Ādīnavañāṇa - Tuệ thấy nguy hại

              6. Bhayañāṇa - Tuệ sợ hãi

              5. Bhaṅgañāṇa - Tuệ diệt

              4. Udayabbayañāṇa - Tuệ sanh diệt

           3. Sammasanañāṇa - Tuệ thẩm sát tam tướng

              2. Paccayapariggahañāṇa - Tuệ nắm bắt duyên khởi

           1. Nāmarūpaparicchedañāṇa -  Tuệ phân biệt danh sắc

              Ātāpī: Tinh tấn,        Satimā: Chánh niệm, Sampajāno: Tỉnh giác.

  

NHỮNG CHƯỚNG NGẠI

LÀM CHO NGƯỜI HÀNH KHÔNG THU KẾT QUẢ.

          1. Không biết rằng mình thực hành để làm gì.

              2. Không biết rằng thiền tuệ là gì.

              3. Không có thời gian học tập và tìm hiểu trước khi thực hành hoặc thời gian học ít ỏi.

              4. Có thời gian học nhưng không hiểu.

              5. Không dám hỏi thầy, bạn / thầy, bạn không tạo cơ hội để được hỏi.

              6. Ở một số thiền viện không dành thời gian cho nền tảng của pháp hành.

              7. Người hành chưa dứt khoát bỏ các phận sự đối với tâm và thân.

              8. Không có sự cẩn trọng trong việc trì giới.

              9. Không thấy giá trị của việc tu tập thiền tuệ.

              10. Không thấy lỗi, khổ, họa tai của luân hồi.

              11. Thời gian thực hành không liên tục.    

              12. Chưa có đức tin vững chắc với Phật giáo.

              13. Không ở tại trú xứ thích hợp.

              14. Hiện tại nỗ lực kém, quá khứ cũng nỗ lực kém.

              15. Thiếu bạn hiền.

              16. Không biết rằng mình đang ở giai đoạn nào trong lời giáo huấn (chưa sẵn sàng).

              17. Chưa từng thử kiểm chứng lời giáo huấn.

              18. Tự cao, ngã mạn, nghĩ rằng biết đúng, biết nhiều và có người khen ngợi một cách sai trái, quá tự tin ở bản thân mình.

              19. Dùng niệm để điều khiển đối tượng, thay đổi phạm vi trong việc sử dụng trú xứ.

              20. Thiếu sự thành thật đối với bản thân, đối với Đức Phật và Đức Pháp.

              21. Không thấy tội lỗi của tà kiến.

              22. Không thấy tội lỗi của vọng tưởng điên đảo (vipallāsa).

              23. Không biết về phiền não, về khổ.

              24. Không quán sát việc tạo nhân, chỉ tìm kiếm quả.

              25. Chấp thủ chế định pháp, không quan tâm chân nghĩa pháp.

              26. Không tin tưởng ở thầy, nghĩ rằng mình biết nhiều hơn hoặc lấy kiến thức cũ đem ra tư duy, thử hành thường xuyên, hoặc đem pháp học ra so sánh hoài.

              27. Thiếu sự trình pháp, báo cáo kết quả của việc hành thiền.

              Nhiệm vụ của người hành không nên bỏ qua là trình bày kết quả của việc hành thiền của mình, cho dù tiến bộ hay không. Việc trình pháp phải đúng với sự cảm nhận mà bản thân đạt được, cho dù là đúng hay sai. Chẳng nên quan tâm đúng sai, chỉ cần đó là sự cảm nhận thanh tịnh, bởi vì sự thanh tịnh ấy bao gồm cả phiền não lẫn trí tuệ mà bạn đạo hoặc thầy hướng dẫn sẽ chỉ bày cho để đạt đến sự đúng đắn và là đường lối làm cho pháp hành tiến triển.

              Sự trình pháp không đem lại lợi ích cho hành giả:

              1. Trình pháp vì nể nang.

              2. Vì sợ bị trách là hành không được.

              3. Chế biến ngôn từ nhằm được sự khen ngợi.

              4. Không hết lòng trình pháp, không muốn người khác biết.

              5. Viết ra cho thầy dạy thiền an tâm.

              6. V.v...

              Người hướng dẫn không cần đến sự trình pháp như đã nói ở trên, bởi vì những việc làm này đưa đến kết quả vô cùng tai hại đối với người hành. Người hướng dẫn chẳng mất mát gì khi nhìn thấy những phiền não tăng trưởng của người hành, chỉ có sự thương tâm vì người hành đang bị mất mát nhiều, chẳng hạn như:

              1. Mất thì giờ mà chẳng có ích gì.

              2. Không gặp được sự thật, giống như tự giết hại mình.

              3. Dễ duôi nơi sự chết và sự bệnh hoạn.

              4. Xả bỏ phiền não của mình không được.

              5. Nếu được người hướng dẫn khen thì thêm phiền não cho bản thân mình, nếu chê thì cũng thêm phiền não.

              6. Khi đã hành lâu tháng, lâu năm, có người lớp sau vào hành thì sinh hổ ngươi, bởi vì có thể bị hỏi về sự tăng tiến trong việc xả bỏ cấu uế phiền não và sẽ trả lời không được, nên chi thấy khó chịu, quyết làm cho được, từ đó nẩy sinh các vấn đề khác nữa.

              7. Một số người hành trở nên câm lặng, giống như mỗi người một thế giới, đúng cũng tỉnh bơ, sai cung tỉnh bơ, tỉnh bơ biết, tỉnh bơ không biết; tóm lại chỉ được số không.

               

NHỮNG CÂU HỎI VỀ HIỂU BIẾT CĂN BẢN

              1. Vì lý do gì mà tin theo Phật giáo?

              2. Sự tin theo Phật giáo của bạn là tin theo như thế nào, tin cái gì, theo cái gì, để vào đâu, sử dụng cho hữu ích ra sao, vì lý do gì?

              3. Bạn có học hỏi về Phật giáo hay không, nếu có thì như thế nào? (pháp học dành cho pháp học, pháp hành dành cho pháp hành)?

              4. Cấp độ của việc học hỏi: a, biết (đọc, nghe)  b, hiểu  c, đạt đến?

              5. Trong cấp độ của việc học hỏi đó, đang ở chi phần nào (Phật, Pháp, Tăng), nêu ví dụ?

              6. Trong chi phần của Pháp, Đức Phật giác ngộ điều gì (tóm lược)?

              7. Trong chi phần của Pháp, Đức Phật dạy điều gì (tóm lược)?

              8. Trong chi phần của Pháp, vì lý do gì Ngài dạy như vậy?

              9. Trong chi phần của Pháp, lời dạy của Đức Phật là dạy cho ai?

              10. Năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hai mươi hai căn, bốn diệu đế,…nói đến những ai?

              11. Trong việc học hỏi lời giáo huấn từ người khác, cả thảy đều là pháp chế định, sự thật hay là chân nghĩa pháp ở đâu, làm sao biết được, biết được khi nào?

              12. Từ: “hiện tại” trong Phật giáo nói đến hiện tại nhân, hiện tại quả, quá khứ nhân, tương lai quả như thế nào, có vai trò quan trọng trong quá trình sống còn của con người ra sao?

              13. Nhân phát sinh ở đâu, phát sinh như thế nào, quả phát sinh ở đâu, quan trọng ra sao khi mà phải biết: “chỉ cho mình được”, “dùng mình được”.

              14. Từ: “biết mình” nghĩa là gì, liên quan đến hiện tại và lời dạy của Đức Phật ra sao?

              15. Sự luân chuyển của nghiệp, quả, phiền não là một sự thật như thế nào, có lỗi ra sao, liên quan đến thời gian và cảnh giới như thế nào?

              16. Phương cách giải quyết sự luân chuyển này ra sao?

              17. Phật giáo khác với các tôn giáo khác ra sao?

              18. Phật giáo có tầm quan trọng như thế nào, có ích lợi gì với người tin theo?

              19. Từ: “đức tin” theo sự cảm nhận của người đời và người trong đạo giống nhau hay khác nhau thế nào?

              20. Đức tin phải kết hợp với trí tuệ nghĩa là gì?

              21. Người ta nói rằng Phật giáo là tôn giáo có nhân quả, nghĩa là gì?

              22. Phật giáo là tôn giáo của người có trí tuệ nghĩa là gì?

              23. Làm sao để biết rằng mình có lòng tin trong vấn đề nghiệp và quả của nghiệp?

              24. Lời giáo huấn nào nên đem ra áp dụng trước nhất, rồi đến thứ nhì, vì lý do gì?

              25. Khi bạn làm phước nào đó trong mười nhân tạo phước, làm thế nào bạn biết được phước đã phát sinh với mình?

              26. Pháp hành là gì, có mấy cấp độ?

              27. Đối tượng và sự phân đối tượng có tầm quan trọng ra sao đối với sự phân chia tội - phước?

              28. Lỗi của việc không biết rõ đối tượng như thế nào, vì sao mà như thế?

              29. Từ câu Pāli: “ chánh niệm phải có mặt mọi nơi”, chánh niệm cần phải có với ta suốt mọi thời vì lý do gì?

              30. Bạn đã biết mình hay chưa, biết như thế nào?

              31. Vì sao cần phải biết mình, có giá trị ra sao?

              32. Lời giáo huấn nào bạn đem ra áp dụng trong đời sống thường nhật, lời nào mà bạn đang tìm kiếm?

              33. Tà kiến nghĩa là gì, có lỗi như thế nào?

              34. Cái thấy điên đảo vọng tưởng là thế nào, có lỗi hay không?

              35. Chánh kiến là thế nào, ta nên biết ở mức độ nông sâu, nhiều ít chừng nào?

              36. Phật giáo là một bộ môn khoa học dạy về sự thật căn bản gì, sự thật ấy bạn hiểu như thế nào, đem áp dụng ra sao?

              37. Chúng sanh có nghiệp là của riêng mình nghĩa là gì?

              38. Hãy làm các nghiệp lành, làm gì, làm thế nào?

              39. Có hay không việc cắt nghiệp, cắt như thế nào?

              40. “Ta tốt nhé, ta có pháp” nghĩa là gì?

              41. “Ta có chánh niệm, có trí tuệ” nghĩa là gì?

              42. Từ: “dính mắc”, ai dính cái gì, dính ra sao, mắc vào cái gì, vì sao mà dính, có lỗi ra sao?

              43. “Có mình là nơi nương tựa” nghĩa là gì?

              44. “Có nơi nương tựa của mình” nghĩa là gì?

              45. Cốt lõi của Phật giáo là gì, ở đâu, biết được ra sao? Trong việc thấy và không thấy cốt lõi ấy, bạn khác biệt với người khác như thế nào, nguyên cớ gì?

              46. Người không biết tội - phước vì lý do gì?

              47. Người không biết mình có lỗi hay không, vì sao?

              48. Sự biết pháp và sự có pháp khác nhau hay không, vì sao?

              49. Lời giáo huấn cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết bàn là gì?

              50. Khi có quyền nói rằng mình là Phật tử, là người theo đạo Phật, có đức tin nơi Phật giáo, thì cần phải có những bổn phận gì? Đem quyền ấy ra sử dụng như thế nào?

 

NHỮNG CÂU HỎI VỀ HIỂU BIẾT CĂN BẢN

(TIẾP THEO)

 

              1. Pháp là gì?

              2. Pháp ở tại đâu?

              3. Vì lý do gì mà nói được rằng đấy là Pháp?

              4. Ai là người dạy cho ta biết về tự nhiên?

              5. Tự nhiên luôn luôn hiện hữu phải không?

              6. Vì lý do gì ta phải đến học hỏi về tự nhiên?

              7. Vì lý do gì người có trí đến để tu tập thiền tuệ?

              8. Tại sao người ta cần tìm đến với Pháp?

              9. Vì lý do gì mà đến ta tu tập thiền tuệ với nhau?

              10. Nghiệp phát sinh vì những lý do gì?

              11. Những gì gọi là nghiệp?

              12. Quả thì ra sao? Ta làm sao biết đấy là quả?

              13. Giữa nghiệp và quả, cái gì quan trọng hơn?

              14. Gì là nhân làm cho  niệm  có sức mạnh?

              15. Vì lý do gì sự cảm nhận không thanh tịnh (trong sáng)?

              16. Vì lý do gì sự cảm nhận ở sáu cửa không chính xác lúc tiếp nhận đối tượng?

              17. Trong thiền tuệ phải đặt tâm như thế nào mới tu tập tiến triển được?

              18. Người tu tập thiền tuệ phải chuẩn bị sẵn sàng những gì thì việc hành thiền mới có kết quả?

              19. Người tu thiền tuệ sẽ trả lời đúng câu hỏi theo nhân mình đã hành thì phải sử dụng những điều căn bản nào?

              20. Việc tu tập thiền tuệ sẽ có được kết quả như thế nào?

              21. Kết quả bước đầu ra sao?

              22. Kết quả đoạn giữa như thế nào?

              23. Để cho hiện tại đối tượng phát sinh thì hành giả cần sử dụng pháp căn bản gì?

              24. Để cho hiện tại đối tượng phát sinh thì hành giả cần làm như thế nào?

              25. Khi hành giả đã tiếp cận với chân nghĩa pháp trong thiền tuệ rồi thì sẽ được gì?

              26. Tính chất thế nào là sai?

              27. Sai ấy là sai ra sao?

              28. Làm sao biết được những gì đã hành qua đó là sai hay đúng?

              29. Khi đã biết sai rồi thì sửa chữa dễ dàng hay không, vì lý do gì?

              30. Khi tu tập thiền tuệ thì cái (pháp) được tiếp xúc lần đầu tiên là gì?

              31. Đã tiếp xúc với thiền tuệ rồi, đã thấy ái dục, ngã mạn và tà kiến hay chưa?

              32. Nếu đã thấy rồi thì chúng phát sinh ra được là từ nhân gì?

              33. Ba người chủ nhà này lui tới thu tiền thuê nhà thường xuyên không?
                       - ai là chủ nhà thật sự?

                       - ai thường đến hỏi thăm sức khỏe nhiều nhất trong ba người này?

              34. Điều căn bản nào thường đem ra sử dụng trong việc tu tập thiền tuệ?

 

ĐIỀU CẦN KIỂM CHỨNG

GIỮA CHẾ ĐỊNH PHÁP VÀ CHÂN NGHĨA PHÁP

              1. Đối tượng của thiền tuệ là gì?

              2. Đối tượng của thiền tuệ ở đâu?

              3. Đem đối tượng của thiền tuệ ra dùng như thế nào?

              4. Hiện tại đối tượng là thế nào?

              5. Hiện tại sự cảm nhận là thế nào?

              6. Sát-na định ở đâu?

              7. Sự an tâm (đặt tâm) là thế nào?

              8. Sự để tâm rỗng rang sử dụng khi nào?

              9. Thu thúc các căn là gì? Thu thúc ở đâu?

              10. Sự cảm nhận mình, sự cảm nhận sáu cửa là thế nào?

              11. Sự quán sát thô thiển, sự quán sát trung trung, sự quán sát vi tế là thế nào?

              12. Như thật tác ý sử dụng lúc nào trong thiền tuệ?

              13. Khổ, … phát sinh từ nghiệp, phát sinh từ phiền não khác nhau thế nào?

              14. Phiền não cần biết đến gồm những gì?

 

HỎI   ĐÁP

               “Giới những người tu học cần biết rằng người tu tập thiền tuệ phải có những giá trị đạo đức của thiền tuệ nhằm truyền lại cho người khác biết đến”.

              Ở đây, “giới những người tu học” là nói tới những người đã đến với Giáo Pháp, học và hành Pháp của Đức Phật. Những người này nên siêng năng đọc, siêng năng nghe Pháp, không nên bỏ qua, đừng nghĩ rằng không có giá trị, không có ích lợi. Thật ra thì Giáo Pháp vô cùng hữu ích, một khi mà có người đời bình thường đến hỏi về Giáo lý, nếu trả lời được thì sự kính trọng và đức tin của người đó đối với Phật giáo sẽ tăng lên bội phần, và phần ta cũng được phước nữa vì ta là người giới thiệu, chỉ bày cho họ. Còn như ta là người ở trong giới tu học mà có ai đến hỏi dù chỉ một chữ rồi trả lời: “không biết” thì điều gì sẽ xảy ra, xin hãy tự nghĩ lấy.

              Về câu: “không nên bỏ qua” được viết ra cũng do bởi trong các câu hỏi mà phần nhiều phát sinh từ những người hành thiền tuệ, thì nếu như người hành thiền không lưu tâm đến thì lấy gì ra để trả lời. Khi trả lời không được thì cũng giống như là không tu tập thiền tuệ vậy, chỉ là đến mượn danh thiền tuệ nhằm phục vụ cho lợi ích bản thân, lừa cho người khác khen ngợi, việc này đáng hổ thẹn lắm thay.

               1. Hỏi: Thiền tuệ ở nơi nào?

                  Đáp: Thiền tuệ ở tại thân, tâm của người hành đang có sự cảm nhận hiện tại, đang có sự quán sát, cảm nhận là sắc, là danh.

               2. Hỏi: Thiền tuệ phát sinh như thế nào?

                  Đáp: Thiền tuệ phát sinh do có sự quán sát đang làm việc sánh đôi với sự cảm nhận, dựa trên như thật tác ý làm làm nhân duyên. Hành giả đã sẵn sàng, bởi xả bỏ hết mọi phận sự rồi, lúc ấy thiền tuệ sẽ xuất hiện đến với tâm thức của hành giả.

              3. Hỏi: Vì sao phải tu tập thiền tuệ?

                  Đáp: Tu tập thiền tuệ để biết rằng thiền tuệ là gì, thế nào gọi là thiền

tuệ và thiền tuệ có giá trị, có lợi ích ra sao, gồm những gì. Người thực hành thiền tuệ  chính là người kiểm chứng bằng sự cảm nhận ở tâm mình rằng mỗi lời dạy của Đức Phật là có thật, là sự thật hay không và có vi tế, tỉ mỉ, thâm diệu như đã được biết đến hay không. Lại nữa, thiền tuệ cắt đứt sinh tử luân hồi, đổi thay kiếp sống tốt hơn lên, biến bất thiện thành thiện pháp được, những tính chất đặc biệt như thế có thật hay không. Do vậy cần tu tập thiền tuệ nhằm các mục đích này.

               4. Hỏi: Kết quả của thiền tuệ là gì?

                  Đáp: Quả đạt được từ sự tu tập thiền tuệ ấy là biết rõ bộ mặt của phiền não cấu uế của chính mình và giảm thiểu, đoạn trừ các phiền não mới sắp nẩy sinh, hoặc ngăn chặn các phiền não ngủ ngầm trong nội tâm không cho phát sinh ra nữa. Ngoài ra còn thay đổi từ việc tạo nhân bất thiện thành nhân thiện pháp mới, làm cho các thiện pháp phát triển thêm lên. Biết rõ phiền não của người khác nhằm đem ra làm bài học để sửa mình và thấu hiểu nhau dễ dàng nhờ vào các thiện nhân đã tạo. Rõ ràng sẽ không có đụng chạm, xích mích bởi vì trí tuệ đã có phương cách chiến thắng phiền não do biết rằng điều gì nên, điều gì không nên. Điều đúng và nên ấy là biết cách sửa đổi, biến cải nội tâm của mình để đi vào con đường của thiện pháp suốt thời gian hành thiền và cả ngoài giờ hành thiền.

               5. Hỏi: Lấy gì ra để chứng minh rằng đấy là kết quả của thiền tuệ?

                  Đáp: Cái để đem ra chứng minh được là phiền não cấu uế, tính từ loại thô thiển biểu hiện qua thân và phiền não sẽ biểu hiện qua khẩu. Chúng không chạy ra trình diễn cho thấy, chúng gầy dựng ở trong nội tâm rồi dừng lại ở đó, khiến cho không gây nhân bất thiện mới nữa. Kết quả cuối cùng là không phải nhận quả bất thiện ở tương lai, bởi vì các phiền não thô thiển đã bị đoạn trừ. Do vậy, những phiền não từng trổi dậy, từng vút qua, là loại thích - không thích, v.v… đã bị trí tuệ phát sinh từ thiền tuệ trấn áp một cách khá dễ dàng. Những tính cách: thích, khen ngợi, dính mắc, yêu mến, si muội, phải được, phải có, phải trở thành,… đều biết mất một cách khó tin.

              Tóm lại, các phiền não bị loại trừ này là điều chứng minh cho thấy rằng việc tu tập thiền tuệ đúng đắn là phải giảm trừ phiền não theo các giai đoạn. “Nhưng nếu người hành thiền tuệ từ tháng này qua năm nọ mà phiền não cũ vẫn sâu dày như trước, phiền não mới bám vào như đất bám đuôi lợn thì tin rằng việc vào hành thiền ấy không phải là vào để nhổ bỏ tà kiến mà chỉ để thêm tà kiến, thêm sự thấy biết sai lệch và tạo thêm nghiệp mới mà thôi.

              * * *  Xin giải thích thêm một chút về việc ngăn phiền não, giảm phiền não, đoạn trừ phiền não như vầy:

              Nói chung, phiền não loại thô thiển sẽ được đoạn tận bằng giới (sīla), phiền não loại trung trung thì sẽ được đoạn tận bằng  định (samādhi), phiền não loại vi tế sẽ được đoạn tận bằng  tuệ  (paññā). Thật ra, nếu trong quá khứ thì điều này vô cùng đúng đắn, nhưng ở thời đại ngày nay con người không đặt giới ra làm nền tảng nữa. Bây giờ phần nhiều người ta chỉ giữ hai giới, ba giới trong số năm giới thôi. Một số người được giới này thì mất giới khác, nào có ai nghiêm ngặt, cẩn trọng để không phạm giới đâu. Thậm chí cả những người xem ra đáng giữ giới cho nghiêm túc thì trở lại đang bị phiền não đến quấy rầy, đoanh vây và không quan tâm đến giới nữa rồi. Quay sang xem các cư sĩ sống đời thế tục, nếu họ luôn có sự tầm cầu trong thường nhật thì giới sẽ còn được hộ trì. Cho nên, trì giới nhằm đoạn trừ phiền não thô thiển không phải là chuyện dễ đâu!

              * * Thời này nói đến dùng  định  để đoạn trừ phiền não loại trung trung thì là chuyện khó lắm thay, bởi vì trong hiện tại tu tập định chỉ tính được từng phút, từng giờ hoặc ngày thứ bảy, chủ nhật mà thôi. Họ thực hành định nhằm để nghỉ ngơi, tránh căng thẳng tinh thần mà bản thân đã trải qua suốt năm ngày làm việc vừa rồi. Bởi thế, định vào thời buổi này không thể đoạn tận phiền não loại trung trung được nữa rồi.

              * Nói tóm lại,  giới và định  sẽ đoạn trừ được phiền não khi mà người hành ấy biết giữ giới và hành thiền định một cách đúng đắn. Thử hỏi người giữ nghiêm giới luật được mấy phần trăm, xin tự nghĩ lấy, tự xem lấy, tự biết lấy.

              Về vấn đề tu tập thiền tuệ có thể đồng thời ngăn chặn, giảm trừ và đoạn tận phiền não, hoặc đoạn trừ theo từng cấp độ của các Tuệ trong thiền tuệ thì dám chắc là như vậy nếu người đó hành trì thiền tuệ thật sự, đúng theo quy trình của thiền tuệ, bởi vì thiền tuệ có mặt nhằm tiêu trừ tận gốc phiền não một cách trực tiếp.

              F Việc nói rằng thiền tuệ đồng thời đoạn trừ phiền não, tức là các phiền não loại thô thiển, loại trung trung và loại vi tế sẽ bị đoạn trừ đồng thời là một sự thật. Sự đoạn trừ ấy là đoạn trừ theo từng sát-na tâm của sự cảm nhận là danh hay là sắc. Tại thời điểm đó, phiền não bị ngăn chặn, bị giảm thiểu, bị đoạn tận do sự tích lũy trí tuệ qua từng sát-na vậy. Và sự tiêu trừ tận gốc phiền não sẽ nẩy sinh, lúc đó chính trí tuệ ở mỗi cấp độ sẽ đoạn trừ phiền não. Chính hành giả sẽ tự biết rằng những phiền não nào của mình đã được giảm thiểu đi, giảm được nhiều ít ra sao, bản thân hành giả tự kiểm chứng lấy thực tánh của chân nghĩa pháp.

              ¯ Về phần đoạn trừ phiền não loại thô thiển, loại trung trung và loại vi tế, thì chính thiền tuệ là tác nhân đoạn trừ:

                       †  Sở dĩ như thế là vì trong việc tu tập thiền tuệ cần phải tiến hành: sự an tâm, sự thu thúc, sự quán sát, sự cảm nhận và như thật tác ý.

                       †  Chỉ cần sự an tâm, sự quán sát và như thật tác ý cũng đủ để ngăn chặn phiền não loại thô thiển được rồi.

              ¯ Riêng sự thu thúc, sự quán sát và như thật tác ý được xếp vào phần giới. Giới là tác nhân đoạn trừ phiền não loại trung trung. Còn  định, tức là sát-na định sẽ có mặt lúc nhận đối tượng, sẽ đi đôi với giới, tóm lại là phiền não loại trung trung bị ngăn chặn và đoạn trừ ở đấy.

              ¯ Chỉ cần như thế, việc tu tập thiền tuệ diễn tiến theo giai đoạn của việc đoạn trừ phiền não, không phải là cái cớ hay điều mâu thuẫn đối với một ai cả, ngay trong sách vở, tài liệu cũng đã nói như trước. Nhưng ở đây phản bác lại do bởi thời này khác đi rồi, vì do phiền não làm nhân, thông tin phát sinh quá nhiều, giới bị hủy hoại cũng do thông tin là phiền não hoặc làm nhân cho phiền não phát sinh nhiều hơn lên.

               6. Hỏi: Cái gì là phiền não?

                  Đáp: Trong Vi Diệu Pháp có đến 1.500 loại phiền não, cả nội thân lẫn ngoại thân, nhưng ở đây chỉ lấy những cái mà ta tìm thấy được ở chính mình thì dễ dàng hơn, ấy là: sự thích ý, không thích ý, sự muốn được, muốn có, muốn nên, phải được, sự buồn lòng, bực bội khi không được như ý, sự ganh tỵ, sự keo kiệt, lòng ích kỷ, sự chấp thủ, dính mắc và mọi điều phải như ý,... Những phiền não đơn đơn này khởi sinh, tiếp nối không dứt trong mỗi ngày. Tất cả chúng đều là phiền não, chúng ngủ ngầm trong nội tâm của chúng ta. Chúng tạo ra tội lỗi khi trổi dậy biểu lộ mình, nếu không thì chúng vẫn nằm im. Nếu sơ suất lúc nào thì lúc đó chúng sẽ thức dậy kiếm chuyện lập tức. Do vậy cần thiết phải biết từng đặc tính của chúng và biết rằng chúng nằm ở đâu, biểu hiện hành động như thế nào. Phải biết cho kịp thời, nếu không thì không có cơ hội để tiêu diệt phiền não đâu bởi vì ta không biết rằng phiền não đang ở với ta mọi thời.

               7. Hỏi: Phiền não sinh ra ở đâu?

                  Đáp: Phiền não sinh ra ở tâm và nương nhờ vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, cả đại oai nghi lẫn tiểu oai nghi.

              Phiền não phát sinh được bởi vì người đó thất niệm, thiếu trí tuệ. Người thất niệm = người phá giới, người thiếu trí tuệ = thiếu minh sát. Nếu hành giả thiếu thu thúc các căn, thu thúc giới luật thì phiền não phát sinh là chuyện thường. Người thiều trí tuệ cũng đồng nghĩa là không có trí tuệ trong thiền tuệ, không biết sự thật rằng vạn pháp là vô thường, khổ não và vô ngã. Khi không có trí tuệ để hiểu biết những điều này thì phiền não sẽ hoặt động một cách dễ dàng. Ngày ngày chỉ nghĩ rằng người này tốt, người kia không tốt, không đúng, thật ra là thế này, thật ra là thế kia, phải sửa chỗ này, phải chữa chỗ kia; mỗi ngày chỉ nghĩ toàn chuyện bao đồng làm cho phiền não nội thân dấy động đến độ quên mình rồi cho rằng bản thân là đúng, chuẩn mực với sự thật mà chẳng chịu xem xét mình rằng phiền não đang hoạt động một cách hăng hái. Gọi là khờ dại đến ba lần mà không biết: 1, thả mình đến độ thất niệm; 2, làm cho phiền não dấy động mạnh mẽ; 3, tạo nghiệp mới, mà vẫn nghĩ rằng ta vẫn tốt, ta vẫn đúng vậy. Đúng là không biết về nghiệp, chỉ biết danh gọi mà thôi. Điều quan trọng là phải biết phiền não, theo dõi phiền não của mình rằng phiền não nào đang sinh, hoạt động, tạo nghiệp ra sao rồi sử dụng chánh niệm và trí tuệ để tiêu diệt chúng. Không phải mỗi ngày tạo nên phiền não âm ỉ giống như hâm nóng nồi cơm, thêm củi vào luôn khi; thật đáng là hổ ngươi khi để cho phiền não phát sinh suốt ngày không nghỉ. Đây không phải là công việc thực sự của chúng ta để cho tác hành tâm nhâm nhi phiền não đến độ quen thân, rồi cho rằng việc tốt nên làm. Do bởi một mình tà kiến mà mọi điều đều tối tăm đi cả.

               8. Hỏi: Nguyên nhân phát sinh phiền não là gì?

                  Đáp: Niệm (sati) mà không kết hợp với trí tuệ (paññā) thường suy tưởng đến đối tượng quá khứ hoặc đối tượng tương lai mà có nhân tạo tác là chúng sanh, con người, khái niệm, đồ vật. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, suy, nghĩ, phóng tâm, nếu không có sự cảm nhận với đối tượng hiện tại là danh - sắc giám sát thì đối tượng quá khứ hoặc tương lai sẽ trổi lên làm đối tượng cho tâm. Đôi khi phiền não phát sinh dựa vào các nhân hiện tại ­là con người, chúng sanh, chế định, đồ vật làm tác nhân, đôi khi không nhất thiết phải dựa vào các nhân bên ngoài mà dựa vào đối tượng quá khứ hoặc đối tượng tương lai, phiền não cũng phát sinh. Chỉ chấp thủ vào “ta” thôi thì phiền não sinh khởi không biết bao nhiêu mà kể, lấy xe tải, xe lửa mấy đoàn ra chở cũng không hết được. Lúc phóng tâm khởi lên thì có khi vượt ra khỏi quận huyện, tỉnh thành cũng không chịu ngừng nghỉ. Khi ấy, kẻ đối địch ở trước mặt ắt sẽ được xem cái gì hấp dẫn lắm lắm đây, gọi lại đấu võ đài vậy, giới có thể bị đứt đấy nhé. Nếu có chánh niệm thì còn kiềm chế được, chỉ có chê bai hay trách móc trong tâm thôi. Còn như thất niệm, không có chánh niệm thì đổ vỡ thành một dãy hết. Chuyện của phiền não này đừng hỏi đến nhá rằng cái gì làm nhân, bởi vì nói cả ngày cũng khó dứt được, người đọc ắt sẽ khoái lắm; nếu vô tình có cái gì ngược với tâm tánh người đọc thì cũng xin đừng trách cứ người viết nhé! Bởi vì trách móc hay la mắng chỉ trong tâm thôi cũng là phiền não vậy, cẩn thận tí nào. Câu trả lời chỉ ngần này thôi, e rằng đọc xong sẽ nổi nóng trong khi thời tiết đang lạnh như thế này.

               9. Hỏi: Nguyên nhân phát sinh phiền não này là nhân bên trong hay nhân bên ngoài?

                  Đáp: Nguyên nhân làm phát sinh phiền não gồm cả nhân bên trong lẫn nhân bên ngoài.

              Nhân bên trong là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của ta.

              Nhân bên ngoài là: chúng sanh, con người, chế định, đồ vật.

              Nhân bên ngoài và nhân bên trong đến tiếp xúc với nhau biến thành phiền não ít hay nhiều tùy vào đối tượng đó. Nếu nhắm đến lợi lộc, địa vị, danh tiếng, sung sướng thì phiền não nhiều lên; còn nếu biết vừa phải, đủ sống, đủ dùng thì phiền não ít đi. Nhưng dù là ít hay nhiều thì cũng đều là phiền não cả, phiền não thì chưa từng đem điều tốt đẹp đến cho ai, chỉ có điều nguy hại mà thôi.

              Gọi là “phiền não có tai hại ít” thì cũng chỉ là ngôn từ để nói hoặc đọc mà thôi, nhưng nếu là các tính chất biểu hiện qua các cửa (căn môn) thì cũng thành nhiều và sẽ dẫn đến các hành vi phạm giới, sai pháp thì khó có thể thoát khỏi địa ngục hay các cảnh khổ được. Hay thử suy xét bản thân mình xem kể từ lúc lớn lên, từng có  ý thích, không thích, vừa lòng, không vừa lòng, ích kỷ, không muốn người khác tốt hơn, tự cao tự đại, luôn đứng về phía mình hoặc bà con của mình, hận thù, căm giận, bực tức, giành lợi thế,v.v… những thứ này gọi là phiền não, cấu uế của nội tâm mà có thực tánh pháp phát sinh ở nơi ta, nương vào sáu cửa làm phương tiện nẩy sinh.

               10. Hỏi: Khi biết rằng đó là phiền não, ta nên làm gì?

                  Đáp: Hành giả nên dựa vào hiện tại đối tượng làm phương tiện ngăn chận phiền não, đừng cho phát triển rộng ra. Nếu nhân làm cho phiền não khởi sinh mạnh mẽ và nhiều, trí tuệ không đủ sức mạnh thì hành giả nên suy xét đến quả của nghiệp và nhân mới, giải quyết bằng cách chấp nhận lấy rồi bắt đầu lại bằng sự cảm nhận mới nương vào sự đặt tâm đúng và thả bỏ đối tượng ấy đi bằng cách quán sát sự cảm nhận đang biểu lộ theo căn môn.

              Hành giả cần phải đặt câu hỏi mỗi ngày, và mỗi câu hỏi đó cần tỉ mỉ, vi tế hơn lên. Vì sao mà nói như thế? Bởi vì trí tuệ trong thiền tuệ là trí tuệ biết kịp phiền não. Nếu không bắt kịp thì phiền não ở trong nội tâm sẽ không bị đào bới ra được. Phiền não ấy sẽ chồng chất lên mãi suốt kiếp này sang kiếp nọ, cả phiền não cũ lẫn phiền não mới. Cho nên người hành thiền tuệ phải là người có tâm vi tế, phải biết quán sát, phải luôn hiểu biết phương cách tiếp nhận đối tượng, phải học hỏi và biết rõ danh, sắc, khổ, phiền não đến từ đâu? phát sinh ở tại nơi nào? phát sinh như thế nào? phát sinh do nhân gì? dựa vào cái gì mà phát sinh được? những gì là danh - sắc? bao nhiêu loại danh - sắc làm cho phiền não sinh khởi được? những loại khổ nào giúp ta xả bỏ được sự chấp thủ dính mắc?

              Phiền não gồm có những loại nào? Chúng dựa vào cái gì để phát sinh? Việc ta biết được phiền não phát sinh ở tại nơi nào thì ta sẽ đem danh - sắc ấy ra làm đối tượng tại chỗ ấy. Nhóm từ: “ở tại nơi nào” cần phải suy nghĩ nhé!!!

              * * * Tuy nhiên, hành giả cần phải luyện tập. Pháp hành cần dựa vào sự cảm nhận và quán sát đi đôi với nhau, tiến hành xuyên suốt theo tự nhiên. Hành giả sẽ biết được bằng chân nghĩa pháp rồi tự động sẽ có kết quả biểu lộ ra trong giá trị của chính nó. Ấy là biếtđoạn trừ, biết nghĩa là biết các căn, biết đối tượng, biết phiền não, biết danh - sắc, biết nhân tạo tác; còn đoạn trừ là đoạn trừ phiền não dựa trên sự cảm nhận mà nẩy sinh từ chánh niệm và tỉnh giác.

               Nếu như người hành không dùng sự cảm nhận và sự quán sát trong lúc hành thì sẽ dùng tâm theo dõi, suy tưởng rồi sẽ biết hết, trả lời mọi câu hỏi đều được cả. Tất cả các câu trả lời của người ấy chẳng biểu hiện giá trị gì mà còn bị mang tiếng là người làm hư hoại lời dạy của Đức Phật về Tứ niệm xứ là khác nữa. Vì sao vậy? Bởi vì người ấy chẳng có pháp giá trị nào biểu hiện qua thân, khẩu, ý hay qua sáu cửa cả, không có pháp nào cả, chỉ có ngôn từ phát ra mà thôi. Ấy là người nói về quả của thiền tuệ bằng sự suy tưởng từ thân, khẩu và ý của mình, còn các phiền não thô thiển chưa loại trừ được gì. Đó là người làm hư hoại lời Phật dạy. Chúng ta sẽ là người như thế hay không cũng tùy thuộc vào phiền não, ái dục, ngã mạn, tà kiến,…hành thiền tuệ nhằm đổi lấy lợi lộc, nhằm được địa vị, nhằm được khen ngợi, có danh tiếng, hưởng sung sướng hay sao? Do vậy, nếu hành giả tu tập thiền tuệ nên nỗ lực quán sát phiền não nội thân rằng trước khi bắt tay vào hành thì phiền não dày đặc cở nào, khi hành gặp sự thật thì phiền não còn sót lại ra sao, phiền não mỏng bớt đi thật không. Ở trong thời gian hành thì chỉ có danh - sắc, ngũ uẩn, đầy đủ nhân duyên, ăn nói lưu loát, khi ra khỏi pháp hành thì còn lại  ta, bà con của ta, anh em của ta, tài sản của ta, con ta, vợ ta, chồng ta, công việc của ta, điều này tốt, cái này đẹp, ngon, cần phải mua về, nhưng ngôn ngữ nói ra thì toàn là thiền tuệ, như vậy thì không thể gọi là tu tập thiền tuệ được. Nên quán xét điểm này nhiều vào, bởi lẽ thiền tuệ đúng đắn còn sót lại ít lắm, nếu phụ nhau làm hư hoại thì sẽ triệt tiêu nhanh hơn là đã nghĩ. Người đời sau sẽ không gặp được sự thật nữa, và chính chúng ta là người tạo nên những bọn tà kiến và còn nhân chúng lên gấp bội, cuối cùng sẽ không biết được thiền tuệ chánh tông là như thế nào nữa.

              Hiện nay, hàng trăm chùa, hàng trăm thiền viện đều cho là hành thiền tuệ cả, chỉ có người có phước thì mới gặp được đồ thật, sự thật thôi. Sự thật ấy là phiền não bị tiêu trừ, cái còn lại là giá trị chân pháp mà nói lên được thực tánh của thiền tuệ, sādhu - lành thay, sādhu - lành thay!

               11. Hỏi: Thực tướng mỗi lần biểu hiện của khổ mà dựa vào danh - sắc phát sinh là tự nhiên thật sự, khổ của danh - sắc, khổ của thân tâm, khổ của ngũ uẩn, khổ trong Tứ diệu đế giống nhau hay khác nhau thế nào?

                  Đáp: Khổ của danh - sắc, khổ thân tâm, khổ của ngũ uẩn thì chung lại là khổ như nhau, chỉ khác ở chỗ thực tướng của khổ đó mà thôi. Khổ thân, khổ tâm là khổ của ngũ uẩn có phiền não gá vào luôn luôn.

              Còn sắc khổ, danh khổ là khổ phát sinh từ thực tánh chân nghĩa pháp, biết được bởi trí tuệ, quyết định bằng trí tuệ và phiền não gá vào trú không được. Trí tuệ sẽ phân tách các loại khổ theo tên gọi và thực tánh trùng hợp nhau. Các tên gọi có được là bởi thực tánh của khổ hiện hữu trước người hành. Trí tuệ, chánh kiến sẽ là pháp biết được khổ thế này, thực tánh như thế, có tên là thế này.

              Các loại khổ dựa vào danh - sắc, thân tâm, ngũ uẩn khởi sinh xếp vào khổ đế (dukkhasacca) trong Tứ diệu đế:

              1. Khổ           = khổ đế

              2. Tập            = tập đế

              3. Diệt          = diệt đế

              4. Đạo           = đạo đế

              Tóm lại các loại khổ có giống, có khác nhau, có cùng trú xứ, và nương tựa vào nhau, bị đoạn trừ bởi trí tuệ như nhau nhưng ở mỗi cấp độ thì có một cái Tuệ khác nhau. Người hành phải theo sát từng nhân của thiền tuệ thì mới có thể phân tách và đoạn trừ khổ được, mới giải thoát được.

              Xin được giải thích thêm về khổ một ít, xem ra thì chẳng có gì là quan trọng cả, nhưng suy xét cho thật đúng lý thì khó mà phản bác được; có lẽ là để cho trí tuệ và chánh kiến làm công việc suy xét thì tốt hơn, phiền não của con người tự xem xét rồi sẽ cãi cọ nhau, vô bổ mất thôi. Xin nêu ví dụ hãy suy xét sắc khổ, danh khổ cũng giống như khổ thân, khổ tâm:

              – về thực tướng của khổ thì giống nhau

              – về tên gọi, định danh thì khác nhau

              – về chân nghĩa pháp thì khác nhau

              Nếu là sắc khổ, danh khổ thì trí tuệ sẽ vào quyết định phiền não, không sinh thân khổ, tâm khổ. Phiền não gá vào vì “ta” luôn thiếu trí tuệ, cho nên phiền não luôn luôn nẩy sinh, nguyên do là vì “thân ta, tâm ta, của ta”. Trên thế gian này, sự chấp thủ và sự chấp nhận của chúng sanh thiếu trí tuệ sẽ làm cho phiền não nương vào luôn khi. Điều này có thể không có trong sách vở, cũng cần nói câu xin lỗi nếu người đọc là người tràn đầy chế định pháp trong mình thì ắt sẽ dẫn đến tranh luận nữa thôi, xin hãy suy xét bằng chân nghĩa pháp.

              Thực tướng của khổ là khổ biểu lộ ở danh - sắc trong cả các đại oai nghi và tiểu oai nghi và biểu lộ qua các cửa (căn môn) sẽ có nhiều điểm khác nhau, tùy thuộc vào trí tuệ của hành giả mà thấy. Khổ tướng có nghĩa là danh nhận biết, danh xem xét khổ đang biểu hiện đó có tính chất thế nào. Nếu theo cách gọi được quy định trong chân nghĩa pháp thì được gọi là  khổ-khổ (dukkhadukkha), nhưng thực tánh của khổ ấy sẽ tự trưng ra cho thấy rồi định danh là khổ-khổ và có tính chất như thế. Do vậy, sự định danh thì giống nhau, khác ở chỗ đổi vị trí mẫu tự thì nghĩa cũng đã khác nhau rồi.

              Chẳng hạn như từng giải thích trước đây, hai khái niệm là: hiện tại đối tượng   đối tượng hiện tại  đã từng có sự tranh cãi rồi, nhưng sẽ được kết luận bằng trí tuệ của người đã đạt đến chân nghĩa pháp rằng chúng khác nhau thật sự và thực tánh pháp cũng khác nhau nữa.

              Nói chung là mọi vấn đề nếu thuộc về chân nghĩa pháp thì cần dựa vào người có trí tuệ thiền tuệ mới kiểm chứng được mà thôi. “Pháp của Như Lai bằng số lá cây trong rừng, nhưng Như Lai đem ra dạy cho chúng sanh chỉ một nắm tay.” Chỉ là một nắm tay mà chúng ta học hỏi cũng không hết rồi, cho nên mỗi người cần phải dựa vào trí tuệ của mình để học tập lấy, để hiểu biết Giáo Pháp của Đức Phật cho thật tinh tế, vi diệu.

                                                                                                       Sādhu - lành thay!

                                                                                                       Sādhu - lành thay!

                                                                                                       Sādhu - lành thay!

              Tóm lại: khổ thân, khổ tâm, ngũ uẩn khổ, sắc khổ, danh khổ, các loại khổ đều giống nhau ở  sự cảm nhận khổ đang biểu hiện cho thấy.

              Riêng người nào khổ vì phiền não hay trí tuệ thì phụ thuộc vào người đó. Khổ không thôi cũng đã khốn đốn rồi, lại còn để cho khổ ấy dẫn dắt vào các đọa xứ nữa. Do năng lực của phiền não dẫn đến tạo nghiệp, bởi vì tà kiến mà không biết đến nghiệp, quả của nghiệp; đang còn sự chấp thủ, dính mắc nơi cái ta, của ta, ta khổ, khổ vì thân của ta, vì tâm của ta… “Sợ khổ thì phải tránh khổ bằng trí tuệ vậy!”

                                                                                                          TÂM NHẬN ĐỐI TƯỢNG

              Việc tâm nhận đối tượng bằng sự quán sát và sự cảm nhận của hành giả cần có sự thu thúc tốt và đúng. Việc nhận đối tượng bằng sự cảm nhận mà có hoạt động của sự quán sát thì mới là đúng đắn trong việc tạo nhân cho việc đoạn trừ phiền não.

              Nhưng nếu hành giả nhận đối tượng bằng quán sát trước rồi mới có sự cảm nhận theo sau thì xem như sự cảm nhận ấy có được từ suy tưởng. Sự cảm nhận này sai lệch khỏi hiện tại đối tượng. Trong việc nhận đối tượng sẽ có sự cảm nhận và sự quán sát đi đôi với nhau, chỉ cần sự cảm nhận trước sự quán sát thôi thì sự cảm nhận và sự quán sát đi đôi với nhau không thể tách ra được, điều này tùy thuộc vào pháp nào diễn tiến trước hay sau.

              Hành giả cần để ý giữa niệm, suy diễn, tưởng và trí tuệ, nếu quán sát việc tạo nhân không hợp lẽ thì người hành sẽ mất thì giờ vô ích lại còn sinh tà kiến cho mình và người khác nữa.

               Dưới đây để dành cho hành giả xem xét:

              QUÁ KHỨ                  HIỆN TẠI                   TƯƠNG LAI

          cảm nhận                         quán sát                   =     là hiện tại

             quán sát                           cảm nhận                 =     là tương lai, hiện tại

              như thật tác ý                                                     =     là quá khứ, hiện tại, tương lai

              Người tu tập thiền tuệ cần phải biết nhằm hành cho đúng, không để sai lệch với sự thật.

              Lúc tâm nhận đối tượng với sự quán sát phải dựa vào sự cảm nhận ở thân - tâm phải vậy không?

              Sự cảm nhận rõ ràng phải phát sinh với thân, tâm, sáu cửa và phải là hiện tại cảm nhận mới ngăn chận, đoạn trừ phiền não được. Còn nếu nhận đối tượng rồi quán sát đối tượng trước khi có sự cảm nhận thì xem như không phải là sự cảm nhận mà được gọi là hiện tại cảm nhận. Nó có thể là quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, lúc đó tâm không thanh tịnh, có thể bị phiền não xen trộn lẫn vào, hành giả dễ bị sơ ý. Nếu tâm không đạt được sự thanh tịnh, chỉ là ngăn chận được phiền não mới mà thôi thì phiền não cũ sẽ không bị tiêu diệt, hoặc có thể sơ ý để cho phiền não mới nương vào thì không thể thanh tịnh được, giới không thanh tịnh mà tâm và tuệ (tri kiến) cũng không thanh tịnh. Cho nên hành giả nên quán sát sự thanh tịnh của sự cảm nhận nhằm ngăn không cho phiền não nhập vào.

 

HỎI ĐÁP GIỮA THIỀN SƯ

VÀ HÀNH GIẢ LÀ VỊ TỲ KHƯU

              Hỏi:  Trong pháp hành, giữa việc thu thúc các căn và việc đặt tâm (an tâm) cho đúng thì điều nào có vai trò quan trọng hơn, vì lý do gì, có cần thiết hay không đối với người hành?

              Đáp: Xin đi vào câu trả lời luôn, theo kết quả của mình đã hành qua thì Sư cho rằng sự an tâm đúng có vai trò quan trọng hơn. Bởi vì nếu lúc nào chưa an tâm được hoặc an tâm sai sẽ là tác nhân làm cho thu thúc không được, khi thu thúc đã không được thì sẽ làm mồi cho phiền não cả. Còn nếu an tâm được, đặt tâm đúng thì cũng sẽ thu thúc được nội tâm. Riêng hỏi đến sự cần thiết thì sự an tâm là cần thiết nhất, cả trong lẫn ngoài pháp hành, nói cho dễ hiểu thì nếu an tâm đúng phiền não sẽ không sinh còn an tâm sai thì phiền não nẩy sinh tức thời.

              Sự an tâm rất cần thiết, cho nên người hành phải thực tập cho được, cho thật thuần thục, thiện xão luôn khi, bởi vì chính sự an tâm này là bánh lái của con thuyền, tức là nếu đặt đúng thì bánh lái sẽ hướng đúng đường và con thuyền sẽ chạy đến đích đã định một cách nhanh chóng, chính xác, không lệch hướng.

              Lúc ở trong trường thiền, sự an tâm sẽ giúp nâng đỡ sự thu thúc tâm hoặc sự thu thúc lục căn được phát sinh thường xuyên, liên tục và trên cùng một đường hướng. Khi ra khỏi trường thiền, về với đời sống thường nhật thì sự an tâm mà đã được tập luyện thuần thục ấy sẽ tự động bật ra nuôi dưỡng cho tâm đứng vững trên các thiện nghiệp. Điều này gọi là pháp bám theo hỗ trợ không dứt, điểm này cũng phù hợp với Phật ngôn: “Pháp luôn hộ trì người thực hành pháp”. Tuy nhiên muốn để cho pháp hộ trì ta thì ta phải hộ trì pháp sao cho pháp ấy ở cùng với ta trước đã, đến khi nào ta hộ trì pháp được rồi thì chính pháp ấy sẽ đem quả đến hộ trì ta về sau vậy. Việc an tâm cũng như thế, ta cần luyện tập cho thật thuần thục, dùng được trong mọi thời và phải hộ trì không để cho sự an tâm ấy suy hoại đi, và lúc nào cần thì đem ra dùng được kịp thời.

              Lại nữa, điều mà Sư nói rằng sự an tâm quan trọng hơn cũng bởi sự an tâm ấy ta tập luyện lúc nào sẽ được lúc đó, tức là thấy kết quả tại thời điểm đó luôn, không phải đợi đến kiếp sau. Nhưng với sự thu thúc các căn thì khác, ta không thể biết được quả của nó sẽ phát sinh lúc nào, tại thời điểm nào. Khi nào quả đó sẽ nẩy sinh ta không thể biết được, và nếu nói đến nhân quả thì việc làm cho quả phát sinh là việc không thể làm được, điều ta có thể làm được là tạo nhân, tạo duyên cho quả ấy phát sinh, hiện hữu mà thôi. Lúc mà nhân đã đầy đủ, đúng đắn thì quả sẽ tự động xuất hiện ra.

              Xin nêu ví dụ: Diệt Thánh Đế là Niết bàn thì phàm nhân như chúng ta có thể làm cho Niết bàn nẩy sinh được không? Rõ ràng là không được, vì không đúng với lý nhân quả. Nhưng nếu có nguyện vọng làm thấu rõ Niết bàn bằng cách tu tiến Bát Thánh Đạo thì điều này ắt hẳn xảy ra được. Lời Phật dạy: “Chừng nào còn có người tu tập Bát Thánh Đạo thì thế gian này sẽ không vắng bóng bậc thánh A-ra-hán” là lời khẳng định rằng nhân thì có thể tích lũy được còn quả thì không phải là cái mà ta có thể làm cho sinh khởi nếu tách rời việc tạo nhân trước.

              Tóm lại một cách ngắn gọn là tại thời điểm này, trong hiện tại này về cá nhân của Sư thì sự an tâm có tầm quan trọng rất lớn, bởi vì nếu thiếu sự an tâm đúng đắn hoặc thiếu như thật tác ý thì thiện pháp khổng thể phát sinh, bất kể là thiện từ bố thí, thiện từ trì giới hay thiện từ tham thiền. Sự hiểu biết của Sư là như đã trình bày ra đó (còn các chuyện khác thì đã nói vào hôm qua rồi, nên không nói ra đấy nữa). Sư mong rằng Tín nữ (Thiền Sư) phân tích giùm sự hiểu biết của Sư rằng đúng hay sai, đúng chỗ nào, sai chỗ nào, Sư đang chờ lời giải đáp của Tín nữ.

              Ghi chú: Sự thu thúc các căn có hai loại:

              1, Trong giai đoạn thực tập thu thúc các căn

              2, Sự thu thúc các căn phát sinh dựa vào nhân duyên đã hội đủ.

              Sự thu thúc lục căn đã thành kết quả rồi chính là loại thứ hai mà Sư muốn nói đến.

        

                                                                                                                                ™˜™˜™˜™˜

 

 

Nguồn tin: Nguyễn Hòa

Các tin khác



«Quay lại

↑ Top


Các khóa tu

Tiêu điểm

Bình chọn

Bạn thấy phiên bản mới của website Chùa Pháp Vân thế nào?

  • Rất tiện lợi và chuyên nghiệp
  • Giao diện đẹp và dễ dùng
  • Chức năng dễ dùng
  • Cũng bình thường
  • Ý kiến khác

: Bình chọn : : Kết quả :

(Đã có 666 lượt bình chọn)